Đức Đại Giác Thế
Tôn, thương sót hữu t́nh chúng sanh, thị hiện thành Chánh Giác, tuỳ căn
cơ giảng kinh thuyết pháp, tuy có đại thừa và tiểu thừa, khai quyền hiển
thật khác biệt, mục đích chủ yếu là khiến cho tất cả chúng sanh, khai
ngộ chứng nhập tri kiến của Phật, đạt đến cứu cánh thành Phật. Thế nhưng
đời mạt pháp chúng sanh, nghiệp chướng sâu nặng, trí cạn, phước mỏng,
khó gặp thiện tri thức, chưa có cơ duyên gặp Phật độ sanh bổn hoài, v́
vậy đặc biệt khai thị phổ độ tất cả chúng sanh, giới thiệu pháp môn tịnh
độ một đời viên măn thành tựu. Năm xưa Nam Xương Mai Đại Sĩ nói: Quả
nhiên có thể thọ tŕ, như thuyết tu hành, chẳng những nhổ trừ được quả
khổ của tương lai, mà hiện tại cũng được sự lợi ích của phước báo, nếu
không phải là người chân chánh tu tịnh nghiệp, th́ không cảm thấy vi
diệu, như kẻ chưa từng lội qua biển, th́ làm sao biết được độ sâu của nó.
Lại nói: Ngày nay muốn hoằng dương Phật pháp, nhất định phải đề xướng
pháp môn tịnh độ.
Thành lập Tịnh Tông
Học Hội, là sau thế chiến thứ hai do Ngài Hạ Liên Cư Đại Sĩ đề xướng tổ
chức chuyên tu tịnh độ, chuyên hoằng tịnh độ. Pháp sư Tịnh Không hoằng
dương Phật pháp đại thừa hơn 40 năm, biết rơ kinh điển y cứ của Tịnh
Tông, đích thật là mười phương ba đời tất cả chư Phật, đều dùng pháp môn
niệm Phật độ chúng sanh thành Phật. Cho nên gần 10 năm nay ở các nước
như:
Đài Loan, Hồng Kông,
Tân Gia Ba, Mă Lai Á, Hoa Kỳ, Gia Nă Đại, Úc Đại Lợi, cực lực tuyên
dương; lại cho in đại kinh và chú giải có hơn triệu cuốn, lưu hành trên
khắp mười phương, hy vọng Tịnh Tông Học Hội có thể phổ biến đẩy mạnh
khắp trên toàn cầu, nguyện chư đại thiện tri thức, đều có thể hoằng
dương bổn kinh diễn giảng chánh pháp, thuyết minh ba đời nhân quả, nói
rơ lục đạo luân hồi, biểu dương Phật tánh chân thường, tán thán Tịnh độ
thù thắng; đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu hành, niệm phật
cầu văng sanh, viên măn thành Phật đạo, cương quyết thệ nguyện phổ độ
chúng sanh, đồng sanh cơi tịnh độ. Đây là mục đích của bổn hội thành
lập duy nhất lư tưởng.
Trong bổn hội các
liên hữu đồng tu, đều tuân theo tu học Tịnh Độ Ngũ Kinh và Tịnh Độ Thập
Yếu, đặc biệt là Kinh Vô Lương Thọ, bản hội tập của Hạ Liên Cư Đại Sĩ,
Di Đà Yếu Giải, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, nhất định phải y cứ ba bộ
kinh này tu học, dốc hết toàn lực, nghiên cứu học tập kinh luận đại thừa
mới có thể tương ứng với Tịnh tông. Bổn hội đặc biệt chú trọng hành giải
tương ứng, tâm khẩu nhất như, cho nên hành môn là mọi người phải phát
nguyện, cho đến mức cùng đời vị lai. Tuân theo Quán kinh tu Tam Phước,
Lục Ḥa, Tam Học, Lục Độ, Thập Đại Nguyện Vương.
Tam Phước:
Một. Hiếu dưỡng cha mẹ,
phụng thờ sư trưởng, ḷng từ bi không giết hại, tu thập thiện nghiệp.
Hai. Thọ tŕ tam quy, giữ
vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi.
Ba. Phát bồ đề tâm, tin sâu
nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu hành.
Lục Ḥa:
1. Kiến ḥa đồng giải.
2. Giới ḥa đồng tu.
3. Thân ḥa đồng trụ.
4. Khẩu ḥa vô tranh.
5. Ư ḥa đồng duyệt.
6. Lợi ḥa đồng quân.
Tam Học: Giới học, Định học,
Huệ học.
Lục Độ: Bố thí, Tŕ giới,
Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát nhă.
Thập Nguyện: Một là
lễ kính chư Phật. Hai là khen ngợi Như Lai. Ba là rộng tu cúng dường.
Bốn là sám hối nghiệp chướng. Năm là tuỳ hỷ công đức. Sáu là thỉnh
chuyển pháp luân. Bảy là thỉnh Phật trụ thế. Tám là thường tuỳ Phật
học. Chín là hằng thuận chúng sanh. Mười là hồi hướng tất cả. Công
khóa hằng ngày, y theo Tịnh Tu Tiệp Yếu, Bảo Vương Tam Muội Sám, nhất
hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, không hoài nghi, không xen tạp, không
gián đoạn, cầu sanh tịnh độ, quảng độ hữu t́nh chúng sanh. Lời bạt của
Hoàng Niệm Công tại trong Kinh Vô Lượng Thọ nói :
Cái khổ vui của
chúng sanh là do nghiệp sở cảm, cái vui của Phật là từ tự tánh lưu lộ ra,
nói tóm lại, nghĩa lư của Hiển giáo và Mật giáo, tánh và tướng, sự lư
và nhân quả, bao gồm tất cả không thiếu. Cho nên người có chí hướng đại
thừa nhất định đọc bộ kinh này, người có ḷng cứu thế nhất định phải
hoằng dương bộ kinh này.
Tự cảm giác thời
đại hiện nay, ḷng người yếu đuối, cộng nghiệp sở cảm, kiếp số chưa từng
thấy, chúng sanh cảm thấy như dao cắt, đều mong muốn được cứu thoát. Nhưng v́ kiếp số do nghiệp tạo thành, nghiệp do tâm tạo, muốn cứu văng
kiếp số, ḷng người nhất định phải cải chính, phong hóa xă hội chưa
chuyển, khó mà cứu văng kiếp số, nếu không nhổ trừ nhân khổ, th́ không
có cách nào thoát khỏi cái quả khổ.
Trong bổn kinh từ
phẩm 30 Bồ Tát Tu Tŕ cho đến phẩm 37 Như Bần Đắc Bảo, nói rơ thiết
thực nguyên nhân của đời ác ngũ trược và dạy phương pháp ĺa khổ, ḷng
từ bi của Phật đă đến cực điểm, nhiều lần khuyên nhủ. Trong bổn kinh chỉ
rơ nghiệp nhân tam độc ngũ ác của chúng sanh, chiêu cảm lấy quả báo
thống khổ, như ngày nay chịu lấy quả báo tai kiếp này, v́ muốn cho tất
cả chúng sanh thấy quả biết nhân, dể dàng gột sạch thân tâm, ăn năn sữa
lỗi, ĺa khổ được vui. Nếu chỉ biết tŕ danh, không hiểu rơ cương lĩnh
của Tịnh Tông, lại không hiểu chánh nhân văng sanh, th́ hiệu quả khó
được cảm ứng. Cho nên trong bổn kinh trước phẩm 38 Lễ Phật Hiện Quang,
có một đoạn nói rơ: Chổ hành của Phật (nơi đẩy mạnh nền giáo dục của
Phật Đà), thiên hạ ḥa thuận, nhật nguyệt trong sáng, mưa gió thuận
thời, thiên tai chẳng khởi, nước giàu dân an, không dấy binh đao, tôn
sùng đạo đức nhân nghĩa, biết tu lễ kính, trong nước không có giặt cướp,
không có người bị hàm oan, mạnh không hiếp yếu, mọi người đều được đắc
ư.
Như phần kinh văn
này, đă bao trùm tất cả pháp, pháp tức là Phật, Phật tức là pháp, chổ
tụng tŕ của kinh này, tức là chổ Phật quang phổ chiếu, nhiếp độ chúng
sanh. Quả nhiên có thể thọ tŕ đọc tụng, tín giải hành chứng, th́ nhất
định được khai huệ tiêu diệt nghiệp chướng, có hiệu quả tăng trưởng
phước đức, khoẻ mạnh sống lâu. Phổ biến lưu hành, thật sự có thể thay
đổi phong tục tập quán, có công hiệu cải chính nhân tâm, cho nên vào đời
tiền Thanh dựng nước, đặc biệt coi trọng kinh này, quy định dùng kinh
này làm khóa tụng hằng ngày trong cung đ́nh, khiến cho mọi người tự biết
kèm chế ḿnh, th́ trên ḥa dưới thuận. Hội sớ có nói: Kinh này là Thất
Nạn Tiêu Diệt Chân Ngôn, là bí quyết thiên hạ thái b́nh, là chân thật
không hư dối.
Những vị liên hữu
đồng tu hoa tạng cảm nhận sâu xa lời khai thị của Liên Đại Sĩ và Hoàng
Niệm Công, quyết chí y giáo phụng hành, bèn thành lập Hoa Tạng Tịnh Tông
Học Hội, và lễ thỉnh Pháp sư Tịnh Không hướng dẫn mọi người tu học,
suốt năm cộng tu tịnh nghiệp, cùng nhau học tập đại kinh, đề xướng hoằng
dương kinh này, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường, đây là nhân
duyên đại sự từ vô lượng kiếp hiếm có khó gặp, không dễ thấy nghe được
thọ tŕ.
Tôi nguyện cho tất cả chư
vị đồng tu tịnh nghiệp cùng nhau khích lệ.
Tết Nguyên
Đán năm Kỷ Mùi (1979)
tịnh nghiệp học nhân Hàn Anh Ḥa Nam tại thư viện Phật
Giáo Hoa Tạng.