
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
HỘ NIỆM VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG
Vi tính - đánh máy
và trình bày: Ban biên tập www.thondida.com
Cập nhật: Ngày 19 tháng 11 năm 2008 –
tại Úc Châu
HOAN NGHINH ẤN TỐNG - CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG
|
|
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
HỘ
NIỆM VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG
Nguyện
tôi đến lúc xắp mạng chung
Trừ
hết tất cả các chướng ngại
Chính
mắt gặp Phật A Di Đà
Liền
được vãng sanh cõi An Lạc
Thành tựu cho một chúng sanh vãng sanh tây phương, tức là thành tựu
cho một chúng sanh làm Phật, cái công đức này
không thể nghĩ bàn.
1.
Bản thân của người vãng sanh phải hội đủ
Tam Tư Lương (ba điều kiện) Tín Hạnh Nguyện, lúc
bình thường phải dặn dò gia quyết chú ý những
điều cần biết khi vãng sanh, Đại Sư Ngẫu Ích dạy:
Có được vãng sanh toàn do tín nguyện có hay
không, phẩm vị cao hay thấp đều do trì danh sâu
hay cạn.
2.
Con cái quyến thuộc phải phát đại hiếu
tâm và từ bi ân huệ tâm, tuân theo lời Phật dạy
như pháp hộ trì cha mẹ thân nhân vãng sanh tây
phương, thì gọi là: Tự thoát khỏi trần lao, mới
có thể thành tựu.
3.
Các liên hữu chân thành hết lòng hộ niệm,
thành tựu cho người khác vãng sanh, sẽ được quả
báo người khác thành tựu cho mình vãng sanh. Tổ
Ấn Quang nói: Khuyên bảo mọi người nên tu tịnh
nghiệp, nguyện cho chúng sanh đó là bổn nguyện
của Phật.
4.
Nếu có thể y theo ba yếu tố như pháp hộ
trì trợ niệm, thì nhất định vạn người tu vạn
người đi, thành tựu cho chúng sanh vãng sanh tây
phương, viên thành Phật đạo, công đức không thể
nghĩ bàn. Nếu vãng sanh có chướng ngại, thì phải
chân thành cầu Phật gia trì, bài trừ chướng ngại,
thành tựu vãng sanh đại sự.
Điều thứ nhất:
Phải khéo khai thị an ủi, khiến cho bịnh nhân
sắp mất sanh lòng chánh tín. Tha thiết khuyên
bịnh nhân, buông bỏ tất cả, nhất tâm niệm Phật,
nếu có dặn dò việc gì, bảo họ mau dặn dò, dặn dò
xong, bảo họ không nên lo nghĩ chuyện khác, chỉ
nghĩ đến ta sắp theo Phật sanh về cõi Cực Lạc,
nhất tâm chí thành niệm Phật, nhất định cảm được
lòng từ bi của Phật, Ngài đích thân đến tiếp dẫn,
liền được vãng sanh.
Điều thứ hai:
Mọi người luân phiên niệm Phật, để hộ trì tịnh
niệm cho bịnh nhân. Tâm lực của bịnh nhân yếu ớt,
không thể liên tục niệm lâu dài, ngay trong lúc
này phải nhờ người khác hộ niệm, mới được đắc
lực. Nên biết rằng: Những người chịu giúp bịnh
nhân tịnh niệm vãng sanh, cũng được quả báo
người khác hộ niệm cho mình, đừng nói là chỉ vì
cha mẹ mới hộ niệm như vậy, cho dù là người
không quen biết cũng phải giúp họ hộ niệm, cũng
là bồi dưỡng phước điền của mình, giúp cho một
người thành tựu vãng sanh tịnh độ, tức là giúp
cho một người thành tựu làm Phật, hộ niệm nên
chia thành từng nhóm luân phiên niệm Phật, pháp
khí chỉ dùng một cái khánh, niệm Phật không mau
không chậm, từng chữ rõ ràng.
Điều thứ ba:
Tuyệt đối không nên dời động hay khóc lóc, e sợ
làm hỏng việc. Bịnh nhân lúc sắp phân chia Phàm,
Thánh, Người, Quỷ, lúc đó chỉ niệm Phật cho thần
thức của họ, không nên lau mình, thay quần áo,
dời động, khóc lóc, để cho họ tự nhiên ngồi nằm,
vì vậy có thuyết rằng: Đỉnh nóng sanh cõi Phật,
nơi mắt sanh cõi trời, ngực nóng sanh cõi người,
bụng nóng sanh ngạ quỷ, đầu gối đọa súc sanh,
bàn chân xuống địa ngục. Lúc này mọi người
nên khẩn thiết mà niệm Phật, không nên thăm dò
hơi nóng của người lúc lâm chung, họ quyết định
đới nghiệp vãng sanh. Trong khổ thơ có nói:
Ta
thấy người khác chết, tâm ta nóng như lữa,
Không
phải nóng người khác, sẽ đến lượt ta đây.
1.
Bịnh chưa nặng – có thể tiếp tục uống
thuốc, nhưng phải niệm Phật, không nên nghĩ rằng
uống thuốc sẽ lành bịnh.
2.
Lúc bịnh nặng – phải buông bỏ hết tất cả,
nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương (nếu thọ
mạng chưa hết, thì sẽ mau lành bịnh), nếu cảm
thấy đau đớn, cũng không nên sanh lòng kinh
hoảng, mà nghĩ rằng ta đang trả nghiệp, lúc tâm
trí còn sáng suốt, phải thỉnh thiện tri thức đến
thuyết pháp, khiến cho sanh lòng hoan hỷ.
3.
Lúc lâm chung – không nên hỏi di chúc,
không nên trò chuyện. Nếu bịnh nhân muốn lau
mình, thay quần áo, thì nên y theo ý của bịnh
nhân làm, bịnh nhân muốn ngồi hay nằm thì cũng
tùy ý của bịnh nhân, không nên miễn cưỡng, phải
thỉnh người đến hộ niệm, trong phòng bịnh nhân
phải thờ một tượng Phật A Di Đà tiếp dẫn, để cho
bịnh nhân trông thấy. Phải luân phiên hộ niệm,
khuyên bảo bịnh nhân niệm Phật, tiếng niệm Phật
không thể chói tai.
4.
Lúc mạng chung – không nên khóc lóc, dời
động, lau mình, thay áo, không cần rờ đỉnh đầu
xem có hơi nóng hay không, tám tiếng đồng hồ sau,
nếu các khớp xương đã cứng, thì nên lấy khăn
thấm nước nóng đắp lên, không bao lâu sẽ mềm mại.
Thời xưa – có ghi chép trong quyển Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Vãng Sanh
Truyện, Vãng Sanh Tập: đời Đường ông Trương
Thiện Hòa, đời Tống ông Vương Long Thơ, ông
Hoàng Dã Thiết, Pháp Sư Khả Cửu. Đến thời đại
Dân Quốc Đại Sư Ấn Quang, Đại Sư Hoằng Nhất, Đại
sư Đế Nhàn, cư sĩ Giang Vị Nông, cư sĩ Hồ Tùng
Niên v.v…
Thời nay – Lão Hòa Thượng Quảng Khâm, Lão Pháp Sư Đạo Nguyên, lão cư
sĩ Lý Bỉnh Nam, cư sĩ Lại Tạ Diệu, cư sĩ Khưu
Phiên Thử, cư sĩ Lý Tế Hoa, cư sĩ Giang Thúy
Thường, cư sĩ Vu Thổ Sát, cư sĩ Lưu Lý Cúc v.v…
những vị vãng sanh trong đời cận đại, có ghi
chép trong quyển Vãng Sanh Lục và Nguyệt San
Minh Luận.
Quy Tắc và Ý Nghĩa của sự Hộ Niệm do Tuyết Lư Lão Nhân giảng, quyển
Lâm Chung Tu Tri và Lâm Chung Tân Lương.
Phải thường chí thành niệm câu:
Nam mô A Di Đà
Phật.
Đời
này tiêu nghiệp chướng,
Lâm
chung không chướng ngại,
Đồng
sanh cõi Cực Lạc,
Thừa
nguyện lực tái lai.
|

|
|
Nét bút của Đại Sư Hoằng Nhất |
 |
|
Kiến tật bịnh nhân
Đương nguyện
chúng sanh
Tri thân không tịch
Ly quai tránh pháp |
Tạm dịch:
Thấy người bịnh tật,
Nên nguyện chúng sanh
Biết thân không tịch,
Xa lìa tranh cãi. |
|
|
Do
Tuyết Lư Lão Nhân giảng tại Liên Xã Đài Trung
Hộ niệm là giúp người vãng sanh. Người hộ niệm đối với phương pháp
và đạo lý của vãng sanh, nhất định phải biết rõ
ràng, thì bịnh nhân mới được lợi lạc. Con người
lúc lâm chung, thần thức của mỗi một người khác
nhau.
Những hành vi tạo tác, ngay trong lúc này đều khởi hiện hành, chủng
tử trong A Lại Da Thức sẽ hiện ra ngoài.
Lúc đó hoàn toàn sẽ do nghiệp lực làm chủ, nghiệp nào lớn mạnh thì
ra trước. Ác nghiệp nhiều thì sức của ác chủng
tử lớn mạnh, đưa đẩy thần thức vào tam ác đạo.
Nếu thiện nghệp nhiều, thì chủng tử dẫn thần
thức sanh lên cõi trời hoặc đầu thai làm người.
Còn như lúc bình thường có công phu niệm Phật,
thì có Phật chủng tử, sức của Phật chủng tử lớn
mạnh mà ra trước, thì được Phật tiếp dẫn vãng
sanh Tây Phương. Nếu như sức của Phật chủng tử
nhỏ yếu chưa ra được, lúc đó phải nhờ vào người
hộ niệm giúp đỡ niệm Phật, thì Phật chủng tử mới
dễ dàng ra trước. Cho nên lúc bình thường phải
có tu trì niệm Phật, đến khi lâm chung thì Phật
chủng tử ra trước, mới có hy vọng được vãng sanh.
Hộ niệm chính là giúp cho người sắp mất biết
niệm Phật cầu vãng sanh.
Đệ tử Phật
bất luận lúc bình thường đọc tụng bao nhiêu bộ
kinh, hoặc niệm bao nhiêu thần chú, lúc sắp mạng
chung, mà chủng tử bốn chữ A Di Đà Phật ra trước
thì mới hữu dụng, lúc đó mới giúp được người sắp
mạng chung vãng sanh Cực Lạc. Những lời này rất
là quan trọng, mọi người phải luôn nhớ kỷ.
Lúc hộ niệm
phải tuân theo quy tắc. Gia quyến của người sắp
mất không nên làm rối loạn, không nên làm theo ý
mình, không nên bày vẽ bên ngoài làm cho nhộn
nhịp. Khi ban hộ niệm đến, nên chuẩn bị nước trà,
ngoài ra không cần gì hết. Ban hộ niệm nhất định
phải chú ý hai điều:
1.
Tự mình ăn uống, không nên làm phiền gia
quyến của người sắp mất.
2.
Không được nhận phong bì đỏ (tiền lì xì),
tuyệt đối không thể phá lệ.
Nếu như đã phá hoại quy tắc, họ không cho phong bì đỏ thì tâm sẽ
không còn chân thành để hộ niệm cho người sắp
lâm chung, thì sự hộ niệm cũng sẽ trở thành kiếm
tiền, đây là phá hoại Phật pháp. Cũng không nhận
lễ vật của người ta. Nếu tại gia cư sĩ đi hộ
niệm, mà nhận tiền thù lao, tức là tạo tội
nghiệp, ban hộ niệm mà nhận tiền thù lao của
người ta, thì là hỏng hết. Mọi người phải học
theo Tổ Ấn Quang, bằng không là phản đồ, không
tuân theo quy tắc hộ niệm, tức là khi sư diệt tổ.
Phàm là những liên hữu gia nhập ban hộ niệm, đều có danh sách. Thân
nhân quyến thuộc của thành viên trong ban hộ
niệm, họ cũng tin Phật pháp, nếu họ có chuyện gì,
chúng ta đều phải đi hộ niệm, còn như họ không
tin, thì không cần đi hộ niệm, đây là phạm vi
nhiệm vụ của ban hộ niệm.
Đi hộ niệm, phải chuẩn bị những thứ cần thiết sau đây: Một tượng
Phật Di Đà cao 3 thước (1 mét), một cái lư hương,
hai cây đèn cầy, nhang
(nhang
đốt không gián đoạn),
một cái ly và 1 cái chén, chúng ta phải mang
theo những thứ này, bất luận nhà của họ có hay
không. Khi đã đến nhà của họ, việc đầu tiên là
an trí tượng Phật, chủ yếu là để cho bịnh nhân
có thể trông thấy tượng Phật, tượng Phật không
nhất định là đóng hay treo vách tường, đặt trên
bàn cũng được, cũng không nhất định đặt tại
phương hướng nào, bởi vì vị trí nhà cửa của mỗi
người khác nhau, thật ra mười phương không phân
đông tây nam bắc, có tượng Phật nơi nào thì nơi
đó là hướng tây. Niệm sáu chữ hoặc niệm bốn chữ
cũng được. Nhang đèn mang theo nếu đã dùng hết
thì dùng của họ, nếu như họ không có, không đốt
tiếp cũng không sao. Khi vào trong nhà của họ,
trước hết trưởng ban hộ niệm thỉnh tượng Phật an
trí đàng hoàng, sau đó đốt nhang đèn, kế tiếp
sắp xếp chỗ ngồi, rồi bắt đầu hộ niệm. Việc sắp
xếp chỗ ngồi rất quan trọng, có thể khiến cho
bịnh nhân yên lòng, cũng là không để cho mắt của
bịnh nhân nhìn chỗ khác. Nếu bịnh tình của bịnh
nhân không nguy ngập, có thể bắt đầu niệm:
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. Nếu
thấy nguy ngập liền niệm sáu chữ, nếu thấy rất
nguy ngập thì trực tiếp niệm bốn chữ A Di Đà
Phật. Nên biết, một tiếng A Di Đà Phật, bao gồm
cả ba thừa, điều quan trọng nhất là phải khiến
cho bịnh nhân nghe được tiếng Phật hiệu mà niệm
theo, thì công đức vô lượng không thể nghĩ bàn.
Người hộ niệm, còn phải chú ý, trước khi vào nhà của họ, nhất định
phải gặp chủ nhân, sau khi đã gặp chủ nhân rồi,
thì mới vào nhà để tránh bị nghi ngờ mất đồ. Chủ
nhân mời chúng ta vào nhà thì mới vào nhà. Lúc
không hộ niệm thì ngồi im lặng niệm thầm trong
tâm, lúc hộ niệm phải tập trung tinh thần trong
câu Phật hiệu. Trong khi đang hộ niệm, những
người khác không được đi ra vào làm ồn, phải giữ
bầu không khí yên tĩnh, những người khác chỉ có
thể ở xa mà xem, không được tự tiện vào thăm
bịnh nhân, nếu để cho họ tự tiện vào thăm hỏi
bịnh nhân, nói những lời dấy động tình cảm, nên
biết rằng: hể bịnh nhân vừa động tình cảm thì là
hỏng hết. Lúc hộ niệm phải tôn trọng quy tắc hộ
niệm của ban hộ niệm. Chỉ cần là đang hộ niệm,
thì những người khác không được vào thăm bịnh,
làm quấy rầy bịnh nhân, khiến cho bịnh nhân dấy
động tình cảm mà mất đi chánh niệm. Cũng không
được để cho bịnh nhân nghe những âm thanh khác
(nghe
âm nhạc, nghe tiếng hát),
không được nghe tiếng khóc thê thảm. Dù có người
sanh ra hiểu lầm, cho là sự ngăn cấm quá nhiều,
người hộ niệm phải nhịn được sự hiểu lầm như vậy.
Trước khi bịnh nhân sắp lâm chung, họ muốn uống
nước hoặc muốn ăn, có thể để cho bịnh nhân ăn,
nhưng không được nói chuyện, chỉ niệm Phật mang
thức ăn đến đút cho họ ăn, nếu như nói chuyện
với họ, thì tâm lý của bịnh nhân sẽ tưởng là
những âm thanh khác, lúc đó họ không thể nhất
tâm.
Công phu niệm hằng ngày của mọi người, đều phải đạt đến nhất tâm bất
loạn, lúc lâm chung thì càng phải nhất tâm.
Người hộ niệm trong khi đang hộ niệm không được
ho, không được thở dài, hoặc phát ra những âm
thanh khác, khiến cho bịnh nhân nghe rồi mất đi
chánh niệm. Điều này lúc bình thường ban hộ niệm
phải luyện tập, phải luyện tập không còn tạp âm.
Nếu không thì lúc bịnh nhân đang nhất tâm niệm
Phật, đột nhiên bị một tiếng ho hoặc thở dài làm
gián đoạn, khiến cho tâm bịnh nhân rối loạn,
thần trí không còn tĩnh táo. Đúng ngay lúc đó mà
tắt thở, đây là điều quan trọng nhất, cũng là
lúc khẩn yếu nhất, thân nhân quyến thuộc sẽ cầm
không được nỗi xúc động, họ sẽ tiến đến bên mình
của bịnh nhân khóc lóc, lúc đó ban hộ niệm phải
ngăn cản họ, bảo họ không nên khóc lóc, kêu ba!
gọi má! mà phải khuyên họ nên niệm Phật, mọi
người đều phải niệm Phật, nếu không thì sự hộ
niệm sẽ hoài công. Sau khi bịnh nhân vừa tắt thở,
linh hồn vẫn còn trong thân thể, nghiệp lực của
trong A Lại Da Thức vẫn còn trong thân thể, rất
khó rời khỏi. Nếu người tội nghiệp nặng mà có
công phu giỏi, trong khoãnh khắc thì rời khỏi
thân thể, người thông thường rất khó rời khỏi,
giống như con óc muốn rời khỏi vỏ là chuyện rất
khó, vì vậy phải niệm Phật, hộ niệm suốt 24
tiếng không gián đoạn, mới bảo đảm không bị
nghiệp lực lôi kéo. Cổ nhân rất coi trọng điểm
này. Khổng Lão Phu Tử có nói: Ba ngày sau mới
đại liệm
(nhập
quan), ba ngày sau thì linh hồn đã rời khỏi thân thể, bậc Thánh
nhân cũng biết được điều này, đại đa số người
đối với việc sanh tử không hiểu rõ.
Trưởng
ban hộ niệm phải bảo người nhà của người mới mất,
trong 12 tiếng đồng hồ không được dời động thân
thể của người mới mất, sau khi hộ niệm xong thì
mới có thể dời động thân thể. Nếu các khớp xương
cùi chõ đầu gối đã cứng nên dùng khăn thấm nước
nóng đắp lên. Nhiệm vụ hộ niệm đến đây đã làm
xong, toàn thể ban hộ niệm đọc bốn câu kệ hồi
hướng, rồi hành lễ hoàn mãn. Trưởng ban hộ niệm
tặng một tấm mền kinh Đà La Ni
(mền Quang Minh),
và một bao chu sa Quang Minh cho người vãng sanh.
Toàn ban hộ niệm từ biệt chủ nhân ra về, không
còn lo nghĩ gì nữa.
Tóm lại, quy tắc và ý nghĩa của sự hộ niệm, mọi
người không thể không biết, Cổ đại đức của Tịnh
Tông, có viết một quyển sách tựa đề [Lâm Chung
Tu Tri], mọi người có thể đọc tham khảo. Nếu như
có thể giúp cho một người được vãng sanh, thành
tựu một vị Phật, thì công đức không thể nghĩ bàn!
(Bài
giảng này có đăng trong Nguyệt San Minh Luận số
158)
|
|
Tài Liệu Tham Khảo Hộ Niệm Pháp Ngữ Khai Thị
Trích Đại Sư Ấn Quang Văn Sao tục biên quyển hạ
Pháp ngữ khai thị cho Pháp Sư Hoa Quyền đang
mang bịnh.
(năm Dân Quốc 21- 1932)
Con người sống trong thế gian này, đều không
tránh khỏi nổi khổ của bịnh tật và chết chóc,
lúc xảy ra những sự khổ này, chỉ có cách là
buông bỏ vạn duyên, nhất
tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật, nếu hơi thở ngắn
thì niệm bốn chữ A Di Đà Phật, nhất
tâm cầu Phật từ bi tiếp dẫn ông vãng sanh tây
phương. Ngoại trừ một niệm này ra, trong tâm
không thể có những ý niệm nào khác. Cũng không
thể mong cho mau lành bịnh, cũng đừng nghĩ tưởng
cầu thần cầu Phật phù hộ. Hể tâm ông có những
nghĩ tưởng này, thì sẽ không tương ứng với tâm
của A Di Đà Phật, vì vậy sẽ không được sức gia
trì lòng từ bi của Phật. Ông nên biết rằng, trời
đất cha mẹ, đều không khiến cho ông thoát khỏi
sanh tử luân hồi, chỉ có A Di Đà Phật, mới có
thể khiến cho ông thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Nếu ông chịu buông bỏ hết tất cả, nhất tâm niệm
Phật, nếu tuổi thọ chưa hết, thì sẽ mau lành
bịnh. Còn như tuổi thọ đã hết, liền được vãng
sanh Tây Phương. Nhưng không thể cầu mau lành
bịnh, chỉ có thể cầu mau vãng sanh. Nếu tuổi thọ
đã hết, mà muốn cầu hết bịnh, thì sẽ không được
vãng sanh. Còn như tuổi thọ chưa hết, lại cầu
vãng sanh, thì sẽ mau lành bịnh. Vãng sanh tây
phương sự lợi lạc nói không hết, so với những
người sanh lên cõi trời làm thiên đế thiên vương,
còn thù thắng hơn họ vô số vô lượng vạn vạn vạn
vạn lần. Ông không thể có si tâm vọng tưởng sợ
chết, nếu trong tâm mà sợ chết thì không được
vãng sanh. Chúng ta sống trong thế gian này,
giống như những con giòi trong hầm phân, như
trong ngục tù không khác, vô cùng thống khổ.
Vãng sanh tây phương như ra khỏi hầm phân và
ngục tù, trở về quê hương thanh tịnh an lạc tiêu
dao tự tại, sao lại sợ chết. Nếu trong tâm mà sợ
chết, thì vĩnh viễn chịu khổ trong sanh tử luân
hồi, vĩnh viễn không có ngày ra khỏi cảnh khổ.
Nếu ông có thể niệm ra tiếng, thì nên niệm nhỏ
tiếng. Còn như không thể niệm ra tiếng, thì chỉ
niệm thầm trong tâm, tai nghe người khác niệm,
trong tâm cũng niệm theo như vậy. Hai mắt nhìn
tượng Phật A Di Đà
(tượng Phật thờ trong phòng),
trong tâm nhớ đến A Di Đà Phật. Nếu có những ý
niệm khác nỗi dậy, thì liền tự trách mình: Ta
muốn nhờ vào Phật lực vãng sanh tây phương, tại
sao ta lại nỗi dậy những ý niệm này, phá hoại
việc lớn của ta. Nếu ông chịu y theo lời tôi dạy
mà niệm Phật, thì nhất định vãng sanh Tây Phương,
liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Đời
đời kiếp kiếp vĩnh viễn thường hưởng lấy sự vui
sướng, không còn thấy nghe những sự khổ nữa, thì
làm gì có những sự khổ não tật bịnh như vậy hay
sao. Có lúc trong tâm nỗi dậy phiền não, nên
biết rằng đó là do ác nghiệp trong đời quá khứ
sai khiến, muốn phá hoại ta không được vãng sanh
tây phương, muốn khiến cho ta vĩnh viễn chịu khổ
trong sanh tử luân hồi. Nay ta biết rõ ý của bọn
chúng muốn hại ta đó, ta không thể để cho bọn
chúng xoay chuyển ta. Ngoại trừ niệm Phật ra,
quyết không nghĩ đên bọn chúng nữa. Như vậy thì
tâm ông tương ứng với tâm Phật, ông sẽ được Phật
tiếp dẫn vãng sanh tây phương. Hãy nhớ kỷ lời
tôi nói, thì ông sẽ tự mau được sự lợi lạc không
gì sánh bằng!

|
|
Dặn Dò Những Điều Lúc Lâm Chung
Những lời dặn dò cho các con cháu hiếu thảo của
tôi:
Bản thân tôi suốt đời niệm A Di Đà Phật, cảm
thấy được sự lợi lạc rất nhiều. Nếu các con có
lòng hiếu thảo với ta, thì nhất định phải giúp
đỡ ta vãng sanh tây phương cực lạc thế giới, đi
đến cõi đó vĩnh viễn sẽ hưởng được thanh tịnh an
lạc, tự do tự tại, đây là nguyện vọng lớn nhất
của suốt đời ta.
Nên biết rằng con người lúc gần tắt thở, giống
như rùa sống bị lột vỏ, vô cùng đau đớn. Nếu như
các con thật sự muốn ta ra đi tự tại, vã lại hy
vọng có thể phù hộ cho cả gia đình, thì nhất
định phải thiết thực hoàn thành tâm nguyện của
ta sau đây:
1.
Trong lúc bịnh tình của ta nguy ngập,
tuyệt đối không được dời động thân thể của ta,
không được thay quần áo, không được khóc lóc,
khóc than thảm thiết. Mà phải vì ta chân thành
niệm A Di Đà Phật, cầu Phật từ bi tiếp dẫn ta
vãng sanh tây phương.
2.
Nếu thần thức của ta hôn mê, lúc hơi thở
trong tình trạng sắp tắt chưa tắt, xin đừng để
cho bác sĩ chích thuốc cứu cấp, hoặc là dùng
những phương pháp hô hấp khác để cứu cấp ta, để
tránh tâm thần của ta bị lay động (rối loạn), sẽ
làm cho ta càng có cảm giác đau đớn. Lúc đó các
con nên giữ gìn yên tịnh, nhất tâm niệm Phật,
mới là có lòng hiếu thảo với ta.
3.
Trước khi ta sắp lâm chung, xin liên lạc
gấp với liên hữu……………, thỉnh cầu họ đến hộ niệm
cho ta. Điện thoại số……………………, các con đều phải
nghe theo lời chỉ dẫn của liên hữu, không được
làm trái nghịch.
4.
Sau khi ta đã tắt thở trong 24 tiếng đồng
hồ, phải niệm Phật liên tục không ngừng, mọi
người trong nhà đều phải luân phiên hộ niệm, bởi
vì trong lúc này đối với ta mà nói, là sự giúp
đỡ rất lớn lao, chính là giúp ta duy trì tiếp
tục niệm A Di Đà Phật. Còn về nghi thức tang lễ,
hãy đợi sau khi hộ niệm xong, thì mới cử hành
tang lễ.
5.
Còn như lau mình thay quần áo, nhập liệm………..,
phải đợi sau khi vãng sanh 24 tiếng đồng hồ, thì
thỉnh ban nghi lễ đến làm nghi thức tang lễ.
(nếu như sợ trời nóng sẽ có mùi vị khác thường,
thì trong nhà nên đốt đàn hương và để nước đá).
6.
Những đồ cúng trong tang lễ, khách đến
phúng viếng, tất cả đều là cúng đồ chay, tuyệt
đối không được sát sanh, để tránh tội nghiệp của
ta tăng thêm.
7.
Nghi thức tang lễ đều y theo Phật giáo,
lấy niệm Phật làm chủ. Làm tang lễ nên tiết kiệm,
không nên phô trương, không nên lãng phí.
8.
Sau khi mất trong 49 ngày, mọi người
trong nhà phải sáng tối đều phải niệm Phật, hồi
hướng cho ta vãng sanh cực lạc thế giới! Làm
được như vậy thì ta mới có thể thật sự được
hưởng sự vui sướng, mà mọi người cũng được vô
cùng cát tường quang minh.
Hy vọng từ nay về sau mọi người đều phải tin
Phật, niệm Phật. Có như vậy thì các con nhất
định sẽ được bình an hạnh phúc.
Đây là tâm nguyện của ta, mong các con tuân
theo.
A Di Đà Phật
Người lập ngôn………………………………Ký
tên
|
|
Thông Cáo Hộ
Niệm
Thân bằng quyến thuộc đến phúng viếng, đều phải
tuân theo những điều sau đây:
1.
Trong khi đang hộ niệm niệm Phật phải giữ
im lặng.
2.
Bây giờ là lúc mọi người tỏ ra lòng thành
kính, chỉ có niệm Phật, tiếng niệm Phật sẽ giúp
cho bịnh nhân an lành tự tại vãng sanh tây
phương cực lạc thế giới.
3.
Xin quý thân hữu niệm Phật ra tiếng, nếu
không biết niệm, thì niệm theo nhỏ tiếng.
4.
Trong lúc đang hộ niệm niệm Phật, xin
đừng làm bốn điều dưới đây:
-
Xin đừng đốt giấy tiền vàng bạc.
(để tránh không khí làm ô nhiễm, ảnh hưởng
mọi người đang niệm Phật)
-
Xin đừng rờ mó thân thể.
(để tránh bịnh nhân động
tình ái, khiến cho mất đi chánh niệm).
-
Xin đừng khóc than thê thảm.
(nếu cảm thấy rất đau
lòng, xin mời ra bên ngoài)
-
Xin đừng hỏi han bịnh nhân.
(để tránh làm trở ngại bịnh nhân đang niệm
Phật)
5.
Muốn đàm luận chuyện khác, xin mời đi nơi
khác.
*****
Bài KỆ HỒI HƯỚNG
Nguyện đem công đức này
Hồi hướng…
(điền tên họ người vãng sanh)
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có người thấy nghe
Đều phát lòng Bồ Đề
Hết một báo thân này
Cùng sanh cõi Cực Lạc
Mười phương ba đời tất cả chư Phật
Tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật
|
|
Gia Quyến Cần
Phải Biết
Những Điều Hộ Niệm Lúc Lâm Chung
1.
Bịnh nhân lắng nghe tiếng Phật hiệu, đó
là thiện căn của bịnh nhân đã thành thục, nếu
thọ mạng chưa hết, thì dần dần sẽ hết bịnh, còn
như thọ mạng đã hết, liền được vãng sanh tây
phương cực lạc thế giới, người thế gian không
hiểu, cứ nghĩ rằng Phật pháp chỉ là siêu độ cho
vong linh, đó là kiến giải cạn cợt của người thế
gian, họ không hiểu sự lợi ích của Phật pháp.
Trong kinh Hoa Nghiêm có nói, Phật lên cõi trời
thuyết pháp cho chư thiên, vô lượng Đế Thích đều
tu pháp môn niệm Phật, niệm Phật là pháp môn thù
thắng nhất, niệm Phật là pháp Phật sở thuyết,
phải nên nhất tâm niệm Phật, thì công đức không
thể nghĩ bàn.
2.
Bịnh nhân lúc lâm chung, thân nhân quyến
thuộc không nên kêu gọi bịnh nhân hoặc khóc lóc
than van, sẽ làm rối loạn chánh niệm của bịnh
nhân, khiến cho bịnh nhân đọa lạc.
3.
Khi bịnh nhân vừa tắt thở, kỵ nhất là
khóc lóc, kỵ nhất là lau tay chân, dời động thân
thể và thay quần áo, bởi vì trong lúc này, thần
thức của người vừa chết chưa rời thân thể, muốn
cho họ không có cảm giác đau đớn và không mất
chánh niệm, là phải nhất tâm niệm Phật, cho đến
khi thần thức rời khỏi thân thể, thì nhiệm vụ
của sự hộ niệm đã làm xong, những điều như trên
phải tuân theo, sau đó mới chuẩn bị cử hành tang
lễ.
4.
Sau khi người chết không còn cảm giác nữa,
tay chân cùi chõ đầu gối đã cứng, rất khó duỗi
thẳng, nên dùng khăn thấm nước nóng, đấp lên cùi
chõ và đầu gối thì sẽ mềm mại như cũ, thật ra
tay chân cong cũng không sao, đừng nghe người
thế tục nói, người chết tay chân không duỗi
thẳng, thì đời sau sẽ thành tay cán giá và thọt
chân. Những người nói như vậy, họ không có kiến
thức, nếu người có chút hiểu biết, thì biết họ
nói không đúng. Còn như người tu hành có công
phu, thì họ nằm nghiêng mình sang bên phải, gọi
là Cát Tường Thệ, hoặc là ngồi mà vãng sanh,
đứng mà vãng sanh, họ nằm nghiêng mình sang bên
phải hoặc ngồi mà vãng sanh, tay chân của họ
cũng cong vậy, điều này không cần giải thích, tự
mình cũng hiểu. Như Thích Ca Mâu Ni Phật nhập
Niết Bàn, Ngài cũng nằm nghiêng mình bên phải
vậy, cho nên thân thể của người chết cong hay
thẳng, thật ra không có vấn đề.
5.
Sau khi người đã vãng sanh tây phương,
gia quyến vẫn tiếp tục niệm Phật, không nên khóc
lóc.
6.
Hoàn toàn phải cúng đồ chay, không nên
cúng đồ mặn, không nên sát sanh.
7.
Tang lễ phải tiết kiệm, các thứ chi phí,
chỉ làm Phật sự, hoặc là phóng sanh, để giúp cho
người quá cố vãng sanh tây phương.
8.
Thân nhân quyến thuộc của người quá cố,
nếu không y theo điều thứ hai và điều thứ ba đã
quy định, thì toàn ban hộ niệm lập tức tạm ngưng
nhiệm vụ hộ niệm.

|

|
|
Nét bút của Đại Sư Hoằng Nhất |
 |
Ưng đương cụ túc trì tịnh giới
Thường vi nhiêu ích chư quần sanh
Tạm dịch:
Phải nên giữ gìn đủ các tịnh giới
Thường làm lợi ích cho chúng sanh
|
|
|
Những Điều Cần
Biết Lúc Hộ Niệm
1.
Sắp đặt:
A.
Trước tiên an vị tượng Phật, sau đó đốt
nhang đèn, tượng Phật nên đặt vị trí ở phía tây,
nhưng cũng không nhất định là đặt ở phía tây.
Nếu trong phòng bịnh nhân đã có tượng Phật A Di
Đà, thì không cần an vị thêm tượng Phật khác.
Khói nhang không nên quá nồng, để tránh bịnh
nhân khó hô hấp.
B.
Nơi an vị tượng Phật, phải để cho bịnh
nhân nhìn thấy.
2.
Bắt đầu:
A.
Ban hộ niệm nên niệm bốn chữ A Di Đà Phật,
vừa niệm vừa đánh khánh, không cần dùng những
pháp khí khác, cũng không cần tụng kinh.
B.
Ban hộ niệm đã đến nhà bịnh nhân, nếu
thấy bịnh nhân trong tình trạng nguy ngập, thì
miễn trừ tất cả sắp đặt, trực tiếp đánh khánh
niệm bốn chữ A Di Đà Phật.
3.
Số người đi hộ niệm:
Mỗi nhóm từ 2 đến 5 người thành một ban hộ niệm,
tối đa không được nhiều hơn 10 người, mỗi ban hộ
niệm luân phiên niệm 2 tiếng đồng hồ.
4.
Khai thị:
A.
Nếu thấy bịnh nhân tinh thần tỉnh táo,
thì trưởng ban hộ niệm hãy khuyên bịnh nhân
buông bỏ vạn duyên, khuyên bảo bịnh nhân niệm
Phật, hoặc niệm thầm trong tâm, hoặc dùng tai
nghe người khác niệm.
B.
Nếu thấy bịnh nhân còn có lưu luyến
chuyện gì, thì trưởng ban hộ niệm giảng giải cho
họ biết, nếu thọ mạng của họ chưa hết sẽ mau
được lành bịnh, còn như thọ mạng của họ đã hết,
nên dùng lời vắn tắt khuyên họ vãng sanh cực lạc,
khiến cho tâm được thanh tịnh.
5.
Đề phòng chướng ngại:
A.
Gia quyến của bịnh nhân, phải cử ra một
người phụ trách về việc hộ niệm, phàm là chuyện
gì có liên quan đến bịnh nhân, để tiện liên lạc
với ban hộ niệm.
B.
Không cần biết gia quyến và bạn bè của
bịnh nhân, lúc bắt đầu hộ niệm, nhất loạt không
được đến gần bịnh nhân, nếu họ muốn tham gia hộ
niệm, họ phải thỉnh cầu người phụ trách hộ niệm
đồng ý, thì mới có thể tham gia hộ niệm.
6.
Cấm kỵ:
A.
Giả như gia quyến muốn tắm rửa cho bịnh
nhân và thay quần áo, thì phải làm trước khi hộ
niệm, việc này do gia quyến phụ trách, nhưng
phải xem bịnh tình của bịnh nhân. Nếu bịnh nhân
không muốn tắm rửa và thay quần áo, thì không
nên miễn cưỡng, sẽ làm cho bịnh nhân đau đớn.
B.
Khi bắt đầu hộ niệm, thì không được tắm
rửa, thay quần áo, dời động bịnh nhân, tuyệt đối
ngăn cắm.
C.
Không được nói chuyện với bịnh nhân, hoặc
hỏi bịnh nhân về việc lập di chúc, hoặc khóc lóc
than thở, sẽ làm trở ngại bịnh nhân vãng sanh.
D.
Lúc bịnh nhân sắp lâm chung, hoặc ngồi,
hoặc nằm, hoặc nằm nghiêng, hoặc nằm ngữa, đều
tùy bịnh nhân, không nên bắt buộc.
E.
Sau khi bịnh nhân đã mất trong 8 tiếng
đồng hồ, không được dời động, tắm rửa và thay
quần áo, trải qua 8 tiếng đồng hồ sau, thì các
khớp xương đã cứng, nên dùng khăn thấm nước nóng
đắp lên các chỗ khớp xương đã cứng và rưới nước
nóng lên, không bao lâu sẽ mềm mại.
F.
Sau khi bịnh nhân đã mất trong 8 tiếng
đồng hồ, không được khóc lóc thê thảm, không
được dùng tay rờ mó thi thể của bịnh nhân, để
thăm dò nhiệt độ.
7.
Hộ niệm đã xong:
A.
Sau khi bịnh nhân đã mất trong 8 tiếng
đồng hồ, ban hộ niệm vẫn phải niệm Phật không
gián đoạn, trải qua 8 tiếng đồng hồ sau, thì
nhiệm vụ hộ niệm đã làm xong.
B.
Sau khi nhiệm vụ của ban hộ niệm đã làm
xong, thì gia quyến có thể lau mình cho thi thể,
thay quần áo và dời động, thân nhân quyến thuộc
muốn khóc thì khóc
(tốt nhất
là đừng khóc),
muốn làm gì thì làm.
|

|
|
Nét bút của Đại Sư Hoằng Nhất |
 |
Giải liễu thế gian do nhược mộng
Diệt trừ chướng cấu vô hữu dư
Tạm dịch:
Hiểu rõ thế gian như giấc mộng
Diệt trừ nghiệp chướng không còn dư |

|
|
PHẬT THUYẾT ĐẠI
THỪA VÔ LƯỢNG THỌ
TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH
48 Lời nguyện của
Phật A Di Đà
Nguyên
Hán bản: Lão cư sĩ Hạ Liên Cư (hội tập)
Việt
dịch: Cư sĩ Tâm Tịnh chuyển ngữ
PHẨM SÁU: PHÁT ĐẠI THỆ NGUYỆN
Pháp Tạng bạch rằng: “Cúi mong Thế Tôn, Đại từ nghe xét, nếu con
chứng đặng, Vô Thượng Bồ Đề, thành bậc Chánh
Giác, cõi Phật của con, đầy đủ vô lượng, chẳng
thể nghĩ bàn, công đức trang nghiêm, không có
địa ngục, ngạ quỷ cầm thú, bò bay máy động, hết
thảy chúng sanh, từ Diệm Ma La, trong ba đường
ác, sinh vào cõi con. Thọ giáo pháp con, thảy
đều đắc đặng, quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác, chẳng còn đọa lạc, vào ba đường ác, được
như nguyện này, con mới thành Phật, bằng không
như nguyện, chẳng thành Chánh Giác.
(1.-
Nguyện trong nước không có ác đạo. 2.- Nguyện
không đọa ba đường ác)
Lúc con làm Phật, thế giới mười phương, hết thảy chúng sanh, khiến
sinh nước con, đầy đủ thân sắc, chân kim vàng
tía, băm hai vẻ đẹp, tướng đại trượng phu, đoan
trang nghiêm chánh, tinh khiết thanh tịnh, đều
đồng một loại. Hình mạo nếu khác, có tốt có xấu,
con thề quyết không, ở ngôi Chánh Giác.
(3.-
Nguyện thân có sắc vàng ròng. 4.- Nguyện có ba
mươi hai tướng tốt. 5.- Nguyện thân không sai
biệt)
Khi con làm Phật, tất cả chúng sanh, sinh vào nước con, đều tự biết
thấu, thiện ác đã làm, vô lượng đời trước, có
thể nhìn suốt, nghe thông biết tận, sự việc ở
trong, mười phương ba đời, không đặng nguyện này,
không thành Chánh Giác.
(6.-
Nguyện có túc mạng thông. 7.- Nguyện có thiên
nhãn thông. 8.- Nguyện có thiên nhĩ thông)
Lúc con làm Phật, tất cả chúng sanh, sinh về nước con, thảy đều
chứng được, trí tha tâm thông. Nếu chẳng biết
được, tâm nguyện chúng sinh, ức na do tha, trăm
ngàn cõi Phật, con thề quyết không, ở ngôi Chánh
Giác.
(9.-
Nguyện được tha tâm thông)
Lúc con làm Phật, tất cả chúng sanh, sinh về nước con, thảy đều đắc
được, thần thông tự tại, Ba La Mật Đa. Nếu trong
khoảnh niệm, không thể siêu vượt, ức na do tha,
trăm ngàn cõi Phật, đi giáp khắp nơi, cúng dường
chư Phật, con thề quyết không, ở ngôi Chánh Giác.
(10.- Nguyện thần túc thông. 11.- Nguyện giáp khắp cúng dường chư
Phật)
Lúc con làm Phật, tất cả chúng sanh, sinh về nước con, xa lìa phân
biệt, sáu căn tịch tịnh, nếu chẳng quyết định,
thành bậc Chánh Giác, chứng đại Niết Bàn, con
thề quyết không, ở ngôi Chánh Giác.
(12.-
Nguyện quyết định thành bậc Chánh Giác)
Khi con làm Phật, quang minh vô lượng, chiếu khắp mười phương, vượt
hơn quang minh, của thảy chư Phật, vượt hơn ánh
sáng, mặt trời mặt trăng, ngàn vạn ức lần.
Nếu có chúng sanh, thấy được quang minh, chiếu
chạm thân mình, đều được an lạc, tâm từ hành
thiện, sinh về nước con. Nếu không như nguyện,
không thành Chánh Giác.
(13.-
Nguyện ánh sáng vô lượng. 14.- Nguyện chạm quang
minh được an lạc)
Khi con làm Phật, thọ mạng vô lượng, nước con vô số, Thanh Văn
Trời Người, thọ mạng chư vị, cũng đều vô lượng.
Giả sử như có, ba ngàn đại thiên, thế giới chúng
sanh, đều thành Duyên Giác, trong trăm ngàn kiếp,
cùng nhau tính đếm, nếu biết số lượng, không
thành Chánh Giác.
(15.-
Nguyện thọ mạng vô lượng. 16.-Nguyện Thanh Văn
vô số).
Lúc con làm Phật, mười phương thế giới, trong vô lượng cõi, vô số
chư Phật, nếu không xưng tán, danh hiệu của con,
và nói công đức, cõi nước thuần thiện, con thề
không trụ, ở ngôi Chánh Giác.
(17.-
Nguyện được chư Phật xưng tán)
Lúc con làm Phật, chúng sinh mười phương, nghe danh hiệu con, chí
tâm tin vui, có được căn lành, tâm tâm hồi hướng,
nguyện sinh nước con, cho đến mười niệm, nếu
không được sinh, con thề quyết không giữ ngôi
Chánh Giác, duy trừ ngũ nghịch, phỉ báng chánh
pháp.
(18.- Nguyện mười niệm tất vãng sinh)
Lúc con làm Phật, mười phương chúng sinh, nghe danh hiệu con, phát
tâm Bồ Đề, tu các công đức, cung kính thực hành,
sáu Ba La Mật, kiên cố bất thoái, lại lấy tất cả,
thiện căn hồi hướng, nguyện sinh nước con, nhất
tâm niệm con, ngày đêm không dứt, đến khi lâm
chung, con và Bồ Tát, hiện tiền nghinh tiếp,
trải qua khoảnh khắc, liền sinh cõi con, thành
tựu A Duy Việt Trí Bồ Tát, nếu không như vậy,
không thành Chánh Giác.
(19.-
Nguyện nghe danh phát tâm. 20.- Nguyện lâm chung
tiếp dẫn)
Lúc con làm Phật, mười phương chúng sinh, nghe danh hiệu con, hằng
nhớ nước con, phát tâm Bồ Đề, kiên cố bất thối,
trồng các cội đức, chí tâm hồi hướng, muốn sinh
Cực Lạc, thảy đều toại nguyện. Nếu các đời trước,
vốn tạo ác nghiệp, nghe danh hiệu con, liền tự
sám hối, vì đạo làm lành, thọ trì kinh giới,
nguyện sinh cõi con, đến khi mạng chung, không
còn đọa lạc, vào ba đường ác, liền sinh nước
con, nếu không được vậy, không thành Chánh Giác.
(21.-
Nguyện sám hối được vãng sinh)
Lúc con làm Phật, cõi nước của con, không có người nữ. Nếu người nữ
nào, nghe danh hiệu con, được tin thanh tịnh,
phát tâm Bồ Đề, nhàm chán thân nữ, nguyện sinh
nước con. Sau khi mạng chung, hóa thành thân nam,
tới cõi nước con. Mười phương thế giới, các loài
chúng sinh, sinh vào nước con, hoa sen hóa sinh,
trong ao bảy báu. Nếu không được vậy, không
thành Chánh Giác.
(22.- Nguyện trong nước không có người nữ. 23.-
Nguyện nhàm chán thân nữ, chuyển thân nam. 24.-
Nguyện liên hoa hóa sinh)
Lúc con làm Phật, chúng sinh mười phương, nghe danh hiệu con, hoan
hỷ tin vui, lễ bái cung kính, đem tâm thanh tịnh,
tu hạnh Bồ Tát, chư Thiên nhân dân, thảy đều chí
kính. Nếu nghe danh con, sau khi mạng chung,
sinh nhà tôn quý, đầy đủ các căn, huân tu đều
đặn, phạm hạnh thù thắng, nếu không được vậy,
không thành Chánh Giác.
(25.-
Nguyện Thiên Nhân lễ kính. 26.- Nguyện văn danh
đắc phước. 27.- Nguyện tu thù thắng hạnh)
Lúc con làm Phật, trong cõi nước con, không tên “Bất Thiện”. Tất cả
chúng sinh, sinh về cõi con, đều đồng nhất tâm,
trụ chánh định tụ, vĩnh ly nhiệt não, tâm được
mát mẻ, thọ hưởng vui sướng, cũng như Tỳ Kheo,
sạch tận các lậu. Nếu còn khởi nghĩ, tham thân
chấp ngã, con thề quyết không, ở ngôi Chánh Giác.
(28.-
Nguyện nước không có tên
“bất thiện”.
29.- Nguyện trụ Chánh định tụ. 30.- Nguyện vui
như Tỳ Kheo dứt sạch các lậu. 31.- Nguyện không
tham chấp thân).
Lúc con làm Phật, sinh vào nước con, căn lành vô lượng, đều được Kim
Cang, Na La Diên thân, có sức vững chắc, thân
đảnh đều có, quang minh chiếu diệu, được sự
thành tựu, tất cả trí huệ. Thu hoạch vô biên,
biện tài vô ngại. Khéo nói các pháp, thâm mật bí
yếu. Thuyết kinh hành đạo, tiếng như chuông ngân.
Nếu không được vậy, không thành Chánh Giác.
(32.-
Nguyện được Na la diên thân. 33.- Nguyện quang
minh trí huệ biện tài. 34.- Nguyện khéo nói pháp
yếu)
Lúc con làm Phật, tất cả chúng sinh, sinh về nước con, ắt đến rốt
ráo, nhất sinh bổ xứ, trừ bản nguyện kia, vì
chúng sinh nên mặc giáp hoằng thệ, giáo hóa tất
cả, các chúng hữu tình. Đều phát tín tâm. Tu
hạnh Bồ Đề. Hành đạo Phổ Hiền. Mặc dù sinh ở,
thế giới phương khác, vĩnh ly đường ác, hoặc vui
nói pháp, hoặc vui nghe pháp, hoặc hiện thần túc,
tùy ý tu tập, đều được viên mãn. Nếu không được
vậy, không thành Chánh Giác.
(35.- Nguyện nhất sinh bổ xứ. 36.- Nguyện giáo hóa tùy ý)
Lúc con làm Phật, sinh về nước con, thức ăn, y phục, các loại cúng
dường, theo ý liền đến, đều được viên mãn. Mười
phương chư Phật, ứng niệm thọ nhận, các thứ cúng
dường. Nếu không được vậy, không thành Chánh
Giác.
(37.-
Nguyện y thực tự đến. 38.- Nguyện ứng niệm thọ
cúng)
Lúc con làm Phật, vạn vật trong nước, nghiêm tịnh sáng đẹp, hình sắc
thù đặc, vi diệu cùng cực. Không thể xứng lượng,
các chúng sinh kia, tuy đủ thiên nhãn, nếu hay
nói ra, các hình sắc kia, quang tướng danh số,
tuyên nói tất cả, con thề quyết không, ở ngôi
Chánh Giác.
(39.- Nguyện trang nghiêm vô tận)
Lúc con làm Phật. Trong nước vô lượng, cây sắc báu cao, trăm ngàn do
tuần. Cây cao Đạo tràng, bốn trăm vạn dặm. Trong
chúng Bồ Tát, căn lành dẫu khuyết, cũng hay rõ
biết. Muốn thấy chư Phật, cõi nước nghiêm tịnh.
Thảy đều được thấy, nơi hàng cây báu, như đài
gương sáng, soi thấy khuôn mặt. Nếu không được
vậy, không thành Chánh Giác.
(40.- Nguyện có vô lượng cây sắc báu. 41.- Nguyện cây hiện cõi Phật)
Lúc con làm Phật. Cõi Phật chỗ ở, rộng rãi nghiêm tịnh. Sáng sạch
như gương. Chiếu suốt mười phương, vô lượng vô
số, không thể nghĩ bàn, thế giới chư Phật. Chúng
sinh thấy được, sinh tâm hy hữu. Nếu không được
vậy, không thành Chánh Giác.
(42.-
Nguyện chiếu suốt mười phương)
Khi con làm Phật, dưới từ lòng đất, trên đến hư không, cung điện lầu
các, ao nước hoa cây, cõi nước có được, tất cả
vạn vật, đều do vô số, hương báu hợp thành,
hương ấy xông khắp, thế giới mười phương. Chúng
sinh ngửi đặng, đều tu hạnh Phật. Nếu không được
vậy, không thành Chánh Giác.
(43.-
Nguyện hương báu xông khắp).
Lúc con làm Phật, cõi Phật mười phương, các chúng Bồ Tát, nghe danh
hiệu con, tức khắc đạt được, thanh tịnh, giải
thoát, phổ đẳng tam muội. Các thân tổng trì, trụ
trong chánh định, đến khi thành Phật. Trong định
thường cúng, vô lượng vô biên, tất cả chư Phật,
không mất định ý. Nếu không được vậy, không
thành Chánh Giác.
(44.-
Nguyện phổ đẳng tam muội. 45.- Nguyện trong định
cúng Phật).
Lúc con thành Phật, thế giới phương khác, các chúng Bồ Tát, nghe
danh hiệu con, chứng pháp ly sinh, được môn tổng
trì, hoan hỷ thanh tịnh, được bình đẳng trụ, tu
hạnh Bồ Tát, đầy đủ gốc đức. Ứng thời không được,
nhất nhị tam nhẫn. Đối với Phật pháp, nếu không
hiện chứng, quả bất thối chuyển, con thề quyết
không, ở ngôi Chánh Giác.
(46.- Nguyện được môn Tổng trì (Đà la ni). 47.- Nguyện nghe danh
đặng pháp nhẫn. 48.- Nguyện hiện chứng quả bất
thối chuyển)
Bồ Tát giới đệ tử
Vận Thành Hạ Liên Cư pháp danh Từ Tế hội tập các
bản dịch.
|
|
ĐẠI
PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM KINH
ĐẠI THẾ CHÍ BỒ
TÁT NIỆM PHẬT VIÊN THÔNG CHƯƠNG
Hán dịch: đời nhà Đường Sa môn Thiên Trúc
BẤT LA MẬT ĐẾ
Việt dịch: Pháp Sư Minh Nhẫn
Ngài
Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, cùng với năm mươi hai
vị Bồ Tát đồng tu pháp môn Tịnh Độ, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, mà bạch
Phật rằng: Con nhớ hằng hà sa kiếp trước,
có đức Phật ra đời, danh hiệu là Vô Lượng Quang.
Trong một kiếp có mười hai đức Như Lai kế nhau
thành Phật, vị thành Phật sau cùng danh hiệu là
Siêu Nhật Nguyệt Quang. Đức Phật kia chỉ
dạy con pháp Niệm Phật Tam Muội. Thí như
có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên
quên, hai người như thế, nếu có gặp nhau cũng
như không gặp, dầu có thấy nhau cũng như không
thấy. Nếu hai người đều tưởng nhớ nhau, cả
hai người càng nhớ càng khắc sâu trong lòng.
Như thế từ đời này cho đến đời khác, như hình
với bóng, không cách xa nhau. Mười phương
Như Lai, thương nhớ chúng sanh, như mẹ nhớ con.
Nếu con bỏ trốn, tuy rằng tưởng nhớ chẳng có ích
gì? Nếu con nhớ mẹ, như mẹ thường nhớ con,
mẹ con đời đời kiếp kiếp không cách xa nhau.
Nếu tâm của chúng sanh, nhớ Phật niệm Phật, hiện
tiền hay tương lai, nhất định sẽ thấy được Phật,
cách Phật không xa, không cần dùng phương pháp
nào khác, thì tự tâm được khai ngộ. Như
người ướp hương, thì thân có mùi thơm, ấy gọi là
Hương Quang Trang Nghiêm. Pháp tu nhân địa
của con là chuyên tâm niệm Phật, chứng nhập pháp
Vô Sanh Nhẫn. Nay ở cõi Ta Bà này, rộng độ
những người niệm Phật, vãng sanh về Tịnh Độ.
Phật hỏi về chứng đắc viên thông, con không lựa
chọn, đều nhiếp lục căn, tịnh niệm kế tiếp, được
vào Tam Ma Địa, đó là thù thắng nhất.
ĐẠI PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM KINH
ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT NIỆM PHẬT VIÊN THÔNG CHƯƠNG
|
|
|

|
|
Nét bút của Đại Sư Ấn Quang |
 |
TỬ
Học đạo chi nhân, niệm niệm bất vong thử tự,
tắc đạo nghiệp tự thành.
Thích Ấn Quang thư
Thời niên bát thập
Tạm dịch:
Người học đạo, niệm niệm không quên chữ TỬ này,
thì đạo nghiệp tự nhiên thành tựu.
Thích Ấn Quang viết
Năm 80 tuổi
|
|
|
|

|
|
Nét bút của Đại Sư
Ấn Quang |
 |
SANH
Nhược sanh tây phương,
thứ khả dữ Phật quang thọ đồng nhất
vô lượng vô biên hĩ.
Trí Sanh giám
Ấn Quang thư
Tạm dịch:
Nếu sanh về Tây Phương,
thì đồng với Phật quang thọ vô lượng vô biên
Trí Sanh giám
Ấn Quang viết
|
|
|
|