“Một câu A-Di-Đà
Không gấp cũng không huỡn
Tâm tiếng hiệp khắn nhau
Thường niệm cho rành rơ”.
Khi hạ
thủ công phu, ở nơi một câu hồng danh của Phật
“Nam mô A-Di-Đà Phật” hay “A-Di-Đà-Phật”, niệm
cho được vừa chừng, không quá mau (không gấp),
cũng không quá chậm (không huỡn), là niệm cho
đều đặn. Kế đó, phải giữ làm sao cho tiếng niệm
Phật cùng với tâm phải
hiệp khắn nhau, nghĩa là tâm phải
duyên
theo tiếng, tiếng phải nằm ở trong tâm, không để
cho xao lăng theo một tiếng ǵ khác. Hễ nó thoạt
rời đi th́ phải nhiếp kéo trở lại liền, để cho
nó trụ nơi cái tiếng, như vậy gọi là “tâm
tiếng hiệp khắn nhau”. Nghĩa là cái tâm
và cái tiếng không khi nào rời nhau, mà tâm và
tiếng không rời nhau th́ đó mới gọi rằng thiết
thật niệm Phật. Chớ nếu trong lúc niệm Phật mà
lại tưởng và niệm những việc khác, đó là niệm
việc khác chớ đâu phải là thật niệm Phật. Nếu là
thật niệm Phật th́ trong tâm chỉ nhớ và tưởng
Phật mà thôi. Bây giờ ḿnh niệm danh hiệu Phật,
tất nhiên là nhớ và tưởng ở nơi cái tiếng niệm
Phật, cái hiệu của Phật, như vậy mới gọi là
thiết thật niệm Phật. Thành ra, làm cái ǵ cũng
phải cho thiết thật trúng cái đó, chớ nếu sai đi,
tất nhiên khó có thể thành công được, do đó mới
có câu “tâm tiếng hiệp khắn nhau”. Nên
nhớ kỷ lắm mới được! Khi niệm Phật phải nhớ câu
đó và phải làm cho đúng theo mới có lợi lạc. Nếu
được tâm tiếng hiệp khắn nhau như vậy mới gọi là
niệm đúng cách và thiết thật.
Giờ
đây, phải “thường niệm cho rành rơ”.
Tâm tiếng hiệp khắn nhau rồi, nhưng phải để ư
cho nó rành. Rành là rành rẽ, tức là từ tiếng,
từ câu không có lộn lạo; c̣n rơ là rơ ràng.
Tiếng niệm Phật cho rơ ràng, hễ “Nam” th́ rơ
tiếng “Nam”, “A” th́ rơ tiếng “A”, cho đến
“Phật” th́ “Phật”. Cái tiếng không trại đi, phải
cho thật rơ, v́ điều này rất cần lắm. Nếu niệm
mà không nhận cho rành rẽ và rơ ràng, niệm một
cách bơ thờ, về sau khi công phu được thuần thục,
mà khi thuần rồi, cái niệm trong tâm nó tự nổi
lên cũng không rành rơ, hơi trại đi. C̣n nếu lúc
nào ḿnh cũng giữ cho rành rơ, th́ khi thuần
thục, trong tâm ḿnh cũng nổi lên cái tiếng niệm
Phật rơ lắm, điều này rất quan trọng. Nên nhớ
chữ “thường”, nếu muốn được cái
tâm mà về sau tự niệm lấy, không cần phải ép
buộc nó mới niệm, phải thường, nghĩa là
luôn luôn niệm cho được nhiều giờ và thời gian
cho được tương tục nên gọi là thường. Chớ
nếu trong một ngày, một đêm mà chỉ niệm có một
hay hai tiếng đồng hồ thôi, c̣n 22 tiếng kia lại
nghĩ việc này việc nọ th́ biết bao giờ tâm mới
thuần thục được! Phải tập cho nó niệm luôn, lâu
ngày thành thói quen - tập quán. Nhưng bây giờ
ḿnh bận đủ các công việc, đâu phải như những vị
rảnh rang cấm túc, kiết thất hay là tịnh niệm,
tịnh khẩu chẳng hạn, vậy phải làm sao đây? Tất
nhiên, trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi và lúc rảnh,
phải bắt tâm ḿnh nó niệm Phật, trừ khi nào tâm
ḿnh bắt buộc chú trọng đến những công việc ǵ
khác, nhưng xong rồi phải nhớ niệm Phật lại. Ví
như lúc mặc áo cũng niệm Phật được, bởi v́ lúc
đó cái tâm có thể rảnh để niệm Phật. Như lúc
ngồi ăn cơm cũng vẫn niệm Phật được, hoặc lúc
nằm nghĩ… chớ không phải chỉ niệm Phật lúc ở
trước bàn Phật, có chuông, có mơ quỳ nơi đó. Nếu
chỉ có như vậy th́ thời gian ít lắm, không thể
gọi là thường làm được, và nếu không làm được
như vậy th́ khó thuần thục, khó thành thói quen.
Về công hạnh niệm Phật, điều đó cần phải nhớ lắm
mới được.
Trang 1
|
|
“Nhiếp tâm là Định học.
Nhận rơ chính Huệ học.
Chánh niệm trừ vọng hoặc.
Giới thể đồng thời đủ”.
Trong
một câu niệm Phật, gồm cả ba môn Vô lậu học mà
các vị đệ tử của Phật cần phải thực hành, là
Giới, Định, Huệ. Như vậy, trong câu niệm Phật
đang thực hành đó, nó tương ưng với Giới, Định,
Huệ là như thế nào? Đáng lẽ là bài kệ phải nói
Giới trước rồi mới Định và Huệ, nhưng v́ phải
theo việc tŕnh bày, thành ra phải để Giới về
sau.
Trước
hết là nhiếp tâm niệm Phật, không nghĩ việc ǵ
khác, tâm trụ nơi câu niệm Phật thôi, đó là đang
học về môn Định rồi. Đây là nói học về môn Định
chớ không phải được Định. Nhưng đă học môn định
th́ tương ưng với Định, một ngày kia sẽ được
Định. Đó là môn Vô lậu học thứ nhất, gọi rằng
“Định học”.
Kế đó,
trong lúc niệm Phật, tâm và tiếng hiệp khắn nhau,
lại nhận rơ ràng và rành rẽ. Tất nhiên trong lúc
đó, cái tâm nó sáng nên mới nhận được rành rẽ và
rơ ràng, chớ nếu nó không sáng th́ làm sao nhận
được rành rơ. Cái sáng đó nó tương ưng với Huệ,
đây là môn Vô lậu học thứ hai, gọi là “Huệ
học”. Và trong lúc niệm Phật th́ không
có những vọng tưởng, tất nhiên không có những
lỗi lầm là tương ưng với Giới. Đây là môn Vô lậu
học thứ ba, gọi rằng môn học về Giới.
Đó là
từ dưới đi lên trên, hay là bắt đầu từ trên trở
xuống dưới th́ nhiếp tâm thuộc về Định học.
Tâm ḿnh nhận rành rẽ và rơ ràng đối với câu
niệm Phật là tâm sáng, tương ưng với Huệ
học. Vọng niệm không khởi, chánh niệm
hiện tiền, không có sự lỗi lầm trong lúc niệm
Phật tức là tương ưng với Giới.
Như vậy, trong lúc ḿnh thực hành câu niệm Phật
đủ cả ba môn Vô lậu học (Giới, Định, Huệ). Mà đă
tương ưng với Giới, Định, Huệ rồi th́ một ngày
kia, khi câu niệm Phật được thuần, tất nhiên là
thành tựu được cả ba môn Vô lậu học. Như vậy,
ḿnh thấy trong hiện đời, đă có sự lợi ích rất
lớn là được điều nhiếp thân tâm đi vào nơi pháp
lành, tương ưng với ba môn lậu học là ba điều mà
đức Phật dạy: “Hễ đệ tử Phật, dù xuất gia hay
tại gia đều phải tu tập và trong tương lai, tất
nhiên nhờ ở nơi Tịnh nghiệp ḿnh tu hành đó sẽ
được văng sanh về Cực Lạc thế giới, bảo đảm giải
thoát thẳng đến lúc thành Phật không thối chuyển”.
Như
vậy, pháp môn niệm Phật, nếu suy nghĩ kỹ, sẽ
thấy lợi ích lớn biết chừng nào. Cần phải noi
theo và thực hành cho đúng và cũng phải cố gắng
khuyên những người có duyên với ḿnh phải tín,
phải nguyện và thực hành như ḿnh
để cho ḿnh cùng tất cả mọi người đều được lợi
ích nơi pháp môn Tịnh độ, niệm Phật cầu văng
sanh Cực Lạc thế giới mà đức Phật Thích-ca
Mâu-ni đă dạy và đúng theo bản hoài của Ngài là
muốn cho tất cả chúng sanh đều được thành Phật.
Tóm
lại, mấy câu kệ trên nói về nơi hạ thủ công phu.
Ở nơi một câu hồng danh của Phật “Nam mô A-Di-Đà
Phật” hay là “A-Di-Đà-Phật”, niệm cho vừa chừng,
không quá mau gọi là không gấp, không quá
chậm gọi là không hưỡn và nơi đó
phải nhiếp tâm theo cái tiếng niệm Phật. Tâm với
tiếng đi đôi với nhau, gọi là tâm tiếng hiệp
khắn nhau. Phải niệm cho được nhiều giờ
trong ngày đêm. Khi niệm, cái tiếng phải cho nó
rành rơ, nhận cho nó rành rơ, nên gọi rằng
thường niệm cho rành rơ. Kế đó, mới hiệp một
câu niệm Phật cho tương ưng với ba môn Vô lậu
học Giới, Định và Huệ. Khi ḿnh niệm th́ nhiếp
tâm, không cho tán tâm, tâm trụ nơi tiếng niệm
Phật. Như vậy gọi rằng tâm duyên nơi một cảnh,
nghĩa là cái tâm ở nơi một cảnh hồng danh của
đức Phật, đó tất nhiên là học về môn Định. Và
khi niệm đó th́ trí rất sáng, nhận ra tiếng niệm
Phật rơ ràng, từ câu rành rẽ. Trí sáng đó tất
nhiên là tương ưng với môn Huệ học, lần lần trí
huệ sẽ phát.
Trong
khi ḿnh niệm th́ nhiếp tâm nơi chánh niệm, vọng
niệm không xen vô, mà những lỗi lầm đều ở nơi
vọng tâm phân biệt mà ra. Nay vọng tâm không có,
tâm trụ ở chánh niệm, như vậy những lỗi lầm
không có. Mà giới là chi? Tất nhiên là để ngăn,
không cho ở nơi thân khẩu ư tạo tội lỗi. Giờ đây,
thân khẩu ư trụ nơi câu niệm Phật là chánh niệm,
không có những tội lỗi, th́ tương ưng với Giới.
Như vậy, trong một câu niệm Phật, lúc chuyên tâm
đúng cách th́ đầy đủ cả Giới Học, Định Học và
Huệ Học. Khi Giới, Định, Huệ mà phát ra thành
tựu đó là chứng quả Thánh.
Giờ
đây, mới tiếp tục để tiến lần thêm ở nơi cái
phần niệm Phật cho nó được nơi Sự Tam-muội, hay
Lư Tam-muội, tức là chánh định niệm Phật về Sự
và chánh định niệm Phật về Lư. Theo đúng như
trong kinh nói: “Người niệm Phật mà được ở nơi
Sự Tam-muội, th́ khi lâm chung chắc chắn văng
sanh, văng sanh rồi tức nhiên không mất phần
Trung phẩm và nếu được gồm Lư niệm Phật nữa th́
khi văng sanh không mất phần Thượng phẩm. Thượng
phẩm tức là bậc Đại Bồ-Tát. Trung phẩm là ngang
hàng với bậc Thánh của Nhị thừa, thành ra không
phải bậc thường được”. Đây theo nơi bài kệ để
tuần tự giảng giải. Quư đạo hữu nên nghe kỹ và
cố gắng, để ḿnh đi được bước nào th́ tốt bước
nấy.
Trang 2
|
|
“Niệm lực được tương tục
Đúng nghĩa chấp tŕ danh
Nhất tâm Phật hiện tiền
Tam-muội Sự thành tựu”.
Khi
niệm Phật nhiếp tâm đúng cách như vậy rồi, niệm
mỗi ngày mỗi đêm, niệm được nhiều giờ, nhiều
thời gian gọi rằng thường niệm. Đă thường niệm
rồi, trải qua một thời gian tức nhiên cái tâm
được thuần thục. Khi tâm được thuần thục rồi th́
nó có cái trớn niệm Phật nơi tâm. Lúc đó th́
không c̣n cần phải tác ư, không cần phải dụng
công, nhưng nơi tâm vẫn cứ tiếp tục nổi lên
tiếng niệm Phật. Nhớ kỹ là cái tâm nổi lên tiếng
niệm Phật không có gián đoạn, nghĩa là đi, đứng,
nằm, ngồi, ǵ cũng nhận thấy rằng tâm nó có cái
tiếng niệm Phật, không cần phải dụng công tác ư
ǵ hết, đó gọi rằng là được niệm lực tương
tục, là sức chánh niệm nối tiếp. Cho nên
biết rằng, lúc tác ư dụng công phải cố gắng lắm
cái tâm mới chịu duyên theo tiếng niệm Phật,
nhưng thật ra trong lúc đó, tâm có nhiều khi
không ở nơi ḿnh, cái miệng niệm Phật, tiếng có
phát ra mà cái tâm nhiều khi nó nhận ra câu thứ
nhất, câu thứ nh́ th́ lơ là, hay là trong câu
niệm Phật đó nó nhận tiếng Phật tiếng “A” ǵ đó,
tiếng “Mô” lại lơ là. C̣n giờ đây tâm tự động
niệm Phật, do sau khi niệm Phật được thường lâu
ngày nó thuần thục. Nói lâu ngày đây, chớ như
tŕnh độ này, có người chỉ trong một ngày một
đêm có thể được, nếu căn trí lanh lợi và tinh
tấn. Có người chừng bảy ngày đă được rồi, c̣n
người niệm Phật không được thường lắm thành ra
lâu. Nếu được cái sức niệm Phật ở nơi tâm tự
động nó niệm, gọi là bất niệm tự niệm đó
là được cái chánh niệm nối tiếp luôn gọi là
niệm lực được tương tục, mới đúng với cái
nghĩa chấp tŕ danh hiệu mà trong kinh
A-Di-Đà các đạo hữu thường tụng.
Thường
thường, người tụng kinh A-Di-Đà ít có để ư, v́
lời Phật nói ra không phải là thông thường, cần
phải để ư lắm. Hễ Phật nói nhất tâm th́ nhất
định là cái tâm phải chuyên nhất thôi, không
được xen ǵ hết mới gọi là nhất tâm. C̣n Phật
nói nhất niệm th́ tức nhiên là cái niệm phải cột
nó lại trong một chỗ mới gọi là nhất niệm. Giờ
đây, Phật gọi rằng chấp tŕ danh hiệu th́ tất
nhiên ở nơi danh hiệu đức Phật, nơi hồng danh
đức Phật A-Di-Đà hay là Nam mô A-Di-Đà-Phật,
phải cầm cho chắc, không lúc nào rời và không để
cái ǵ xen tạp vô, như vậy mới gọi rằng cái tâm
nó chỉ nắm cầm hay là giữ chắc một câu niệm Phật
không rời. Nếu giữ chắc không rời câu niệm Phật
mới gọi là niệm lực được tương tục, dù không
niệm tâm nó vẫn tự niệm, nói gọn lại là bất
niệm tự niệm và cái chánh niệm nó được nối
tiếp, nghĩa là tương tục. Đó mới thật là cái
nghĩa chấp tŕ danh hiệu ở trong kinh A-Di-Đà.
Nên cuối câu kệ gọi rằng: “Niệm lực được tương
tục. Đúng nghĩa chấp tŕ danh”.
Khi
niệm lực được tương tục, rồi nắm giữ danh hiệu
của đức Phật mà không có một tạp niệm xen vô th́
trong một thời gian, tâm nó dừng lại, ĺa hết
tất cả cảnh ngũ trần, là sắc, thanh, hương, vị,
xúc nó không c̣n duyên nữa. Lúc đó, dù có con
kiến cắn cũng không hay, nghĩa là ĺa nơi xúc
trần, dù có mùi hương thoảng cũng không biết là
ĺa nơi hương trần và cho đến có tiếng chi một
bên cũng không nghe, có cái chi ở trước mắt cũng
không thấy, dù lúc đó mở mắt, mà cái tâm chỉ
duyên rành rẽ ở câu niệm Phật và chỉ có nhận câu
niệm Phật mà thôi. Lúc đó, trong th́ quên thân,
ngoài không duyên theo cảnh, cái tâm nó đứng
lặng là “nhất tâm bất loạn”. Khi được như vậy
rồi, trong kinh Vô Lượng Thọ nói, lúc đó Phật
thân hiện, Phật A-Di-Đà hiện cho đến Phật cảnh
Cực Lạc hiện, nên câu kệ gọi rằng: “Nhất tâm
Phật hiện tiền”. Đó là thành tựu được Sự
Tam-muội. Câu kệ gọi là: “Tam-muội Sự thành
tựu”. Chánh định thuộc về Sự, th́ tâm ḿnh
chỉ trụ ở nơi câu niệm Phật. Trong quên thân,
ngoài không duyên theo cảnh, và lúc đó, Phật và
Thánh cảnh hiện, nó thuộc về sự tướng. Nếu người
được ngang nơi đây th́ sau khi văng sanh, bảo
đảm ở nơi Trung phẩm, tức nhiên ngang với hàng
Thánh của Nhị thừa. C̣n nếu được “niệm lực tương
tục, đúng nghĩa chấp tŕ danh” ở trên là bảo đảm
văng sanh, nhưng mà trong phẩm vị th́ chưa chắc
phẩm nào, c̣n tùy theo ở nơi thiện căn công đức
của người tu hành.
Trang 3
|
|
“Đương
niệm tức vô niệm
Niệm tánh vốn tự không
Tâm làm Phật là Phật
Chứng lư Pháp thân hiện”.
Bây giờ,
do nơi chánh định thuộc về Sự nên tâm đứng lặng, do
tâm đứng lặng thành ra trí huệ phát. Trí huệ đây gọi
là Vô lậu trí huệ hay là Thánh trí phát. Do nơi phát
đó mà toàn thể tự tâm bổn tánh hiển hiện. Trong
Thiền tông gọi là minh tâm kiến tánh. Lúc đó, đă
thấy ở nơi bổn tánh rồi, mà bổn tánh không phải tánh
riêng của một cái ǵ hết, nó là tánh của tâm mà cũng
là tánh của pháp, nói chung của tất cả pháp. Mà đă
là tánh của tất cả pháp rồi th́ đương nhiên lúc niệm
Phật, cái tâm nó trụ ở nơi câu niệm Phật, nơi Sự
niệm Phật. Chính ở nơi Sự niệm Phật đó lại tỏ ngộ,
thấy là vô niệm. Cho nên biết rằng, thể tánh chân
thật của tất cả các pháp, nghĩa là không luận của
tâm hay của sắc đều là cái tánh không tịch cả. Đă
không tịch tất nhiên nó không có một sự ǵ và cũng
không có một tướng ǵ hết. Cái thể tánh chơn thật nó
như vậy. Do đó, mới tùy duyên mà có tất cả sự, tất
cả pháp. V́ vậy, nên khi tỏ ngộ bổn tâm tự tánh rồi
th́ thấy cái chánh niệm ḿnh đương niệm đó tức là vô
niệm, gọi là “đương niệm tức vô niệm”.
Cái tánh
của chánh niệm không phải ḿnh làm cho nó không, bởi
v́ bổn lai (xưa kia) là không. Cũng như cái tánh của
tất cả tâm, cái tánh của tất cả pháp, bổn lai nó là
không tịch. Do đó, cho nên sợ rằng người học đạo
không biết “cố ư mà dằn ép cái tâm”, phải nhận rằng
ở nơi niệm cái tánh là không. Lúc đó, thấy cái niệm
là không tánh mà cũng rơ biết rằng tánh của niệm bổn
lai nó là không. Như vậy, mới thật là thấy thật tánh
của niệm. Nếu thấy thật tánh của niệm th́ thấy thật
tánh của các pháp, bởi v́ tất cả pháp đều là một
tánh mà thôi.
Cho nên,
thấy thật tánh của một pháp tất nhiên thấy được thật
tánh của tất cả pháp. Nên hai câu kệ mới nói đương
niệm, chính lúc đương niệm đó không phải bỏ niệm, mà
giác ngộ là vô niệm. Giác ngộ vô niệm là chi? Tức là
cái tánh niệm tánh không tịch, mà cái niệm tánh
không tịch đó là tánh bổn lai của cái niệm, cho nên
gọi rằng “niệm tánh vốn tự không”, chớ không phải là
nó mới “không” đây, tại v́ trước kia ḿnh mê muội,
ḿnh theo sự tướng thấy nó thế này, thế kia đủ thứ
hết.
Giờ đây,
giác ngộ được rồi th́ thấy bổn tánh không tịch, bổn
tánh không tịch đó là bổn lai từ hồi nào đến giờ nó
vẫn không tịch như vậy, chớ không phải mới, không
phải do tu hành mới là không.
Kế đến câu:
“Tâm làm Phật là Phật”
Đồng thời,
lúc đó phải giác ngộ tâm của ḿnh đây chính là chơn
tâm thật tánh của ḿnh. V́ rằng ở trên, hễ giác ngộ
ở nơi tâm niệm đó rồi th́ thấy rơ bổn tâm của ḿnh
làm Phật, và bổn tâm đó chính là Phật. Đó gọi là bổn
tâm chân thật. Lúc đó, tất nhiên gọi rằng chi? Là đă
chứng nơi Lư tánh, thành tựu Lư Tam-muội niệm Phật
và đồng thời pháp thân Phật hiện. Ở trên về Sự Tam-muội,
gọi rằng Phật hiện tiền, lúc đó có Phật ở ngoài ḿnh
mà hiện ra, rồi ḿnh thấy Phật hiện. C̣n giờ đây nơi
thân tâm ḿnh làm Phật là Phật. Nên biết rằng, sự tỏ
ngộ đó không phải ở nơi trí suy luận mà tỏ ngộ,
chính là Hiện lượng chứng trí lúc đó nhận như vậy,
thấy như vậy, chứng như vậy chớ không phải là suy
luận. Mà đă chứng ngộ ở nơi bổn tâm ḿnh làm Phật và
tức là Phật, vậy Phật và tâm không phải hai, chính
tâm là Phật, Phật là tâm. Như vậy, tất nhiên là
chứng nơi Pháp thân, gọi là Pháp thân hiện tiền. Lúc
đó, Pháp thân Phật hiện, c̣n ở trên, nơi Sự Tam-muội
mà Phật hiện đó là Phật sự tướng hiện, sắc thân Phật
hiện, c̣n đây là “Pháp thân Phật hiện”. Nếu người
được đến đây rồi, khi văng sanh quyết định ở nơi
Thượng phẩm, tức là một vị Đại Bồ-tát. Hiện tại,
người ấy ở tại đây cũng là một vị Bồ-tát. Tầng bậc
này đối với Thiền tông gọi là chứng tâm tánh. Sau
khi minh tâm kiến tánh rồi, chứng tâm tánh gọi là
đại triệt, đại ngộ. Nhưng ở nơi pháp môn niệm Phật
th́ hơn nơi Thiền tông, bởi v́ Thiền tông đến khi
minh tâm kiến tánh hay là chứng nhập tự tánh rồi,
c̣n cần phải theo một thời gian rèn luyện để dứt trừ
những nghiệp chướng phiền năo. C̣n người niệm Phật
th́ không như vậy. Bởi v́ ngoài sự tỏ ngộ ra, c̣n có
nguyện lực của Phật nhiếp tŕ, mà đă vào trong
nguyện lực của Phật nhiếp tŕ rồi, tất nhiên chẳng
những chứng ngộ nơi tự Pháp thân mà cũng ở vào nơi
Pháp thân của đức Phật A-Di-Đà. Do đó, không luận
nghiệp chướng phiền năo, sau khi bỏ thân này rồi về
Cực Lạc thế giới, được văng sanh ở Thượng phẩm th́
mấy cái đó tự mất. Thế nên, trong kinh Quán Vô Lượng
Thọ có nói: “Người được văng sanh về Thượng phẩm,
bậc đó gọi rằng ở vào Sơ địa Bồ-tát”. Hiện tiền, sau
khi sanh về có thể dùng cái trí lực và thần thông,
hiện thân làm Phật trong 100 thế giới không Phật.
Nghĩa là trong những thế giới nào không Phật th́ vị
Bồ-tát có thể hiện thân làm Phật để độ chúng sanh.
Nên biết rằng, mỗi thế giới như vậy là có vô số tiểu
thế giới hiệp lại, cũng như Ta-bà thế giới của ḿnh
có 1.000 triệu cái tiểu thế giới hiệp lại, nghĩa là
1.000 triệu cái thái dương hệ hiệp lại mới thành thế
giới Ta-bà.
Do đó, lúc
đức Thích-ca Mâu-ni thành Phật rồi, th́ cái thân
hiện ra gọi rằng “Thiên bá ức”, nghĩa là 1.000 trăm
ức, 1.000 trăm lần ức. Một ngàn trăm lần ức đó là
1.000 tỷ. 1.000 tỷ thân Phật Thích-ca chớ không phải
chỉ một thân Phật Thích-ca. Đó là nói một thế giới,
mà đây vị Bồ-tát chứng Lư Pháp thân, nghĩa là ở nơi
Lư Niệm Phật Tam-muội thành tựu rồi, văng sanh về
cơi Cực Lạc, trụ nơi bậc Sơ địa có thể dùng thần
thông trí huệ hiện thân làm Phật ở trong 100 thế
giới không Phật tế độ chúng sanh.
Ḿnh thấy
pháp môn niệm Phật, nếu bắt đầu từ dưới nh́n lên
trên, và từ trên nh́n lần xuống dưới, đường đi rành
rẽ hết sức là phân minh. Và ở nơi đó, ḿnh thấy cũng
không đến nổi quá khó, chỉ có khó là phải tin, quyết
định thực hành, tinh tấn và không giải đăi mà thôi.
Khó là có chịu nhất định để tu và quyết định tinh
tấn hay không? Chỉ có khó nơi đó mà thôi. Theo pháp
môn niệm Phật th́ không có cái chi là khó lắm, không
phải như các pháp môn khác. V́ các pháp môn khác do
tự lực. Tự lực thành khó, và ở nơi các pháp môn khác
mà đến chỗ chứng Lư Pháp thân hiện không phải dễ.
Bên Thiền Tông thuộc về Vô tướng tu. Vô tướng tu đó
khó nắm nơi đâu để làm cột trụ, để hạ thủ. Nếu sai
một chút th́ thuộc về hữu tướng, mà hữu tướng tất
nhiên không phải của Thiền tông, sai rồi th́ không
thành tựu được. C̣n như theo Pháp Hoa tông mà tu th́
cũng phải tâm chỉ tâm quán, cái đó không phải dễ
được. Theo Hoa Nghiêm tông th́ thuộc về pháp quán
rất khó. Theo như Duy Thức tông tu th́ phải là Duy
Thức quán, quán chẳng phải dễ. Đó là nói những pháp
môn thuộc về tự lực tu.
Muốn được
đến tŕnh độ gọi là chứng Lư Pháp thân hiện th́ phải
ở các Tông thuộc về viên đốn Đại thừa. Nếu ngoài
những Tông đó ra mà tu những Tông khác th́ không thể
đến các tầng đó được. Những Tông vừa kể trên tu
chứng đến tầng này khó lắm, bởi v́ thuộc về tự lực.
C̣n đây, ngoài tự lực ra, pháp môn niệm Phật này c̣n
có tha lực, tức là nguyện lực của Phật nhiếp tŕ. Do
đó, có sự dễ dàng hơn, bảo đảm hơn. Huống nữa ở
trong pháp môn niệm Phật, nếu ḿnh chỉ được ở nơi
tầng công phu thấp nhất là có sự chuyên niệm được
tương ưng với nghĩa chấp tŕ, th́ bảo đảm văng sanh.
Nếu được văng sanh rồi ắt dự vào hàng Thánh, được
Bất thối chuyển nơi đạo Vô thượng. Dù rằng đối với
các bậc mà được Sự Tam-muội niệm Phật hay Lư Tam-muội
niệm Phật là c̣n thấp. Nhưng kỳ thật, khi đă được
văng sanh rồi đều dự vào hàng Thánh, được Bất thối
chuyển, nhất là được về thế giới Cực Lạc, không có
các sự khổ về già, bệnh, chết, không có các sự khổ
như là những cảnh duyên nó làm ḿnh xao động, hoặc
là sự ép buộc ở nơi thời tiết, nhất là những việc ăn,
việc mặc, làm ḿnh bận rộn cả ngày đêm. Không có tất
cả điều đó tất nhiên rảnh rang tu hành, mà trong khi
rảnh rang đó lại có tiếng gió thổi, tiếng chim kêu,
tiếng nước chảy đều phát ra tiếng nói pháp hết.
Hơn nữa,
nơi Cực Lạc thế giới, như trong kinh Vô Lượng Thọ,
Quán Vô Lượng Thọ, kinh A-Di-Đà mà các đạo hữu
thường tụng, th́ các bậc Nhất sanh Bổ xứ Bồ-tát
Thượng thiện nhơn là bạn, và người được văng sanh sẽ
ở chung với các bậc đó. Cho nên, trong kinh A-Di-Đà
có nói: “Những người nào mà nghe nơi đây th́ phải
phát nguyện, nguyện sanh về Cực Lạc thế giới. Tại
sao vậy? V́ đồng với các bậc Thượng thiện nhơn Nhất
sanh Bổ xứ Bồ-tát câu hội một chỗ, ở chung một chỗ”.
Như vậy
th́ thấy, ḿnh về bên đó rồi th́ cùng ở chung với
các bậc Đại Bồ-tát như Quán Thế Âm, Đại Thế Chí và
vô số các vị Bồ-tát khác. Cung điện của ḿnh ở đây,
th́ cung điện của các Ngài ở kia, muốn gặp lúc nào
cũng được, muốn hỏi han lúc nào cũng tiện. Và hóa
thân Phật ở khắp nơi trong thế giới Cực Lạc, không
có chỗ nào không có hóa thân Phật hết. Thành ra,
muốn thấy Phật lúc nào cũng được, trừ ra những bậc
thuộc về Thượng phẩm, chứng Lư Pháp thân. Chừng đó,
tất nhiên về thế giới Cực Lạc, mới thấy được Báo
thân thật của Phật, c̣n những bậc dưới th́ thấy hóa
thân. Hóa thân th́ cũng như báo thân, bởi v́ sự
thuyết pháp độ sanh của Phật th́ hóa thân, báo thân
đều giống nhau, nhưng cái thân có khác theo tŕnh độ
người: thân lớn, thân nhỏ, chỗ đẹp nhiều hay đẹp ít
khác nhau, tùy theo cái trí lực ở nơi con mắt thấy
nó sai khác, mà sự giáo hóa vẫn đồng.
Phật bao
giờ cũng theo căn cơ mà thuyết pháp. Cho nên, trong
kinh A-Di-Đà, Phật nói: “Người nào theo kinh này mà
thọ tŕ, tu hành cùng những người đă phát nguyện,
đương phát nguyện, sẽ phát nguyện văng sanh về cơi
nước của đức Phật A-Di-Đà, thời những người ấy đều
đặng không thối chuyển nơi đạo vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác”. Nghĩa là người đó sẽ được văng sanh và
được bảo đảm đi thẳng đến thành Phật. Do đó, thấy
căn cơ của ḿnh hiện tại đây, cũng như tất cả mọi
người trong thời gian này mà rời pháp môn niệm Phật,
quyết khó bảo đảm giải thoát lắm, đừng nói là bảo
đảm thành Phật. Vậy các đạo hữu cũng nên cố gắng tự
tu cho tinh tấn và cũng đem pháp môn niệm Phật chỉ
dạy người khác và khuyên bảo người khác nên thực
hành như ḿnh!
Trang 4
|
|
|