|
|

TUYẾT HƯ LÃO NHÂN TỊNH ÐỘ TUYỂN TẬP
(Tuyển
tập
những
bài viết
về
Tịnh
Ðộ
của
lão cư
sĩ Lý Bỉnh
Nam)
Trích dịch: Bửu Quang Tự đệ tử Như
Hòa
Hạ tải: 
MỤC
LỤC
Vi tính
và trình bày: Ban biên tập www.thondida.com
Cập nhật: Ngày 01 tháng 12 năm 2008 – Tại
Melbourne - Úc Châu
|
|
|
“Thật vì
sanh tử, phát Bồ Đề,
Dùng tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật”.
Triệt Ngộ đại sư
***
“Như Lai sở dĩ hưng xuất thế,
Duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải”.
Thiện Đạo đại sư
***
“Được vãng sanh hay không
đều do Tín, Nguyện có hay không,
Phẩm vị cao hay thấp
đều do hành trì sâu hay cạn”.
Ngẫu Ích đại sư
***
“Chỉ duy trì danh mà chứng thiệt tướng,
Không cần quán tưởng cũng thấy Tây Phương!”.
Ấn Quang đại sư
***
“Trong đời mạt pháp, ức ức người tu
hành, ít có kẻ nào đắc đạo,
chỉ nương theo pháp môn Niệm Phật mà thoát luân hồi”.
Kinh Đại Tập
*** |
|
PHẦN
THỨ NHẤT
NHỮNG
ÐOẢN VĂN TRÍCH TỪ BỘ HOẰNG HỘ TIỂU PHẨM
* PHÁP TU
THÀNH TỰU NGAY TRONG ÐỜI NÀY
1.
Ðời người nhiều nghịch cảnh
Có ai là
không bị bệnh hoạn, già suy, thân thuộc sanh ly tử
biệt, của cải mất mát, oán thù gia hại? Lại còn kẻ
nghèo mong cầu tiền của, người không con cầu con, kẻ
vô nghề nghiệp, chức vụ mong có nghề nghiệp, chức vụ;
nhưng rốt cuộc rồi mấy ai được như ý? Những điều bất
như ý ấy làm cách nào để giải quyết đây?
2. Cõi đời
này lắm tai nạn
Gió bão nổi
dậy, địa chấn phát sanh, tường đổ nhà sập khiến lắm
người bị tử thương. Lại còn không mưa thành đại hạn,
mưa quá thành lụt, mất mùa khiến lắm người bị chết
đói. Nước lớn tràn dâng, chìm ngập thôn trang. Lửa
to bốc cháy, thiêu tan thành thị khiến lắm người bị
tử thương. Những chuyện như vậy gần như năm nào cũng
có. Lại còn có năm chẳng thái bình, có những quốc
gia trên thế giới chẳng nghĩ gì đến lẽ nhân đạo luôn
gây vạ chiến tranh. Lại còn phát minh những vũ khí
giết người tối tân, nào là bom nguyên tử, nào là bom
khinh khí, chỉ sợ là chẳng giết được thật nhiều
người mà thôi. Còn bảo như vậy mới là thế giới tiến
hóa, chứ nói trắng ra chỉ là một lò sát sanh lớn!
Thử hỏi ai có biện pháp nào tránh khỏi những tai nạn
như thế hay không?
3. Nỗi khổ
luân hồi của thân sau
Rất đáng
thương thay! Người chết chẳng phải là hết vì thân
tuy chết đi, thần thức chẳng diệt. Có sáu cảnh giới
là thiên, nhân, A tu la, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ.
Thần thức hoàn toàn chẳng thể vượt ra khỏi phạm vi
của sáu cõi này. So trong lục đạo, cõi trời, cõi
người còn khá, nhưng vẫn có sanh tử, xoay vần qua
qua, lại lại; hốt nhiên mang thân trời, người, hốt
nhiên sanh trong địa ngục, súc sanh. Ngàn lần sống,
vạn lần chết, luân chuyển như thế; xương vùi cao như
núi, lệ trào nhiều như biển, thật quá cực khổ! Thử
hỏi ai có phương pháp nào trốn tránh sự luân hồi ấy
ngõ hầu được trường sanh an tịnh chăng?
Trang 1
|
|
II. Phương pháp giải cứu nghịch cảnh, tai
nạn, luân hồi
1.
Chuyển biến nghịch cảnh, tiêu trừ tai nạn
Sự khổ vui
của mỗi người vốn là một thứ quả báo, phải vận dụng
cả ba đời để quán sát. Nếu chẳng hiểu rõ đạo lý này,
làm sao thông hiểu được? Hiện tại chúng ta gặp phải
nghịch cảnh, mắc phải tai nạn, đương nhiên là có
dính líu đến nhân quả. Cách để chuyển biến, tiêu trừ
chúng nhanh nhất chính là Niệm Phật. Trong kinh từng
nói chí tâm niệm Phật một câu, tiêu trừ được trọng
tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Nếu đã tiêu trừ
được tội thì nào còn có nghịch cảnh, tai nạn gì nữa!
Kinh còn dạy người niệm Phật A Di Ðà được vô lượng
vô biên chư Phật ở bốn phương, thượng, hạ hộ niệm.
Phật là bậc pháp lực vô biên vạn đức, vạn năng, đã
được Phật gia bị thì còn sợ gì tai nạn cơ chứ?
2.
Thoát khỏi luân hồi, trường sanh vĩnh viễn
Ngoài lục
đạo lại còn có cảnh giới nào khác thì thật là chuyện
lạ. A! Lục đạo là cảnh phàm, nào biết còn có cảnh
Thánh. Cảnh Thánh chính là cõi Phật. Trong các thế
giới ở phương Tây, có thế giới Cực Lạc, là quốc độ
của Phật A Di Ðà, hoàn toàn do bảy báu tạo thành,
trang nghiêm thanh tịnh.
So với bất
cứ cõi thiên cung nào, thế giới Cực Lạc cũng tốt đẹp
hơn ngàn vạn vạn lần. Ðiểm tuyệt diệu nhất là thọ
mạng vô lượng, chẳng giống như cõi trời, cõi người
sanh tử chẳng ngừng trong lục đạo. Trong kinh có dạy:
Nếu ai sanh về đó thân đều sắc vàng, quang minh chói
lọi, thần thông đầy đủ, nghĩ đến áo liền có áo, nghĩ
ăn liền có ăn, thọ mạng vô lượng, sống mãi đến khi
thành Phật.
Phương pháp
rốt ráo để sanh về đó là như kinh đã dạy: Niệm A Di
Ðà đến Nhất Tâm Bất Loạn. Lúc lâm chung, nhất định A
Di Ðà Phật đến rước đi.
3.
Nêu lời cổ huấn để chứng minh
Những điểm
tốt lành vừa được đề cập trong hai đoạn trên đều
được chép trong kinh, vốn ngàn lần, vạn lần chân
thật, chẳng cần phải nhọc công nêu chứng minh. Nhưng
càng chứng minh nhiều thì tín tâm càng thêm kiên cố
nên chẳng ngại dài dòng, nêu thêm mấy câu về “mười
đại lợi ích của việc niệm Phật”. Nghĩa là người niệm
Phật quyết định sẽ được mười điều lợi ích:
1) Ngày đêm
thường được hết thảy chư thiên, đại lực thần tướng
ẩn thân thủ hộ người ấy.
2) Thường
được hai mươi lăm vị đại Bồ Tát như Quán Âm bảo vệ,
gia hộ.
3) Ngày đêm
thường được chư Phật hộ niệm, A Di Ðà Phật thường
phóng quang minh nhiếp thọ người ấy.
4) Hết thảy
ác quỷ, dạ-xoa, la-sát đều chẳng hại được, chẳng bị
trúng phải rắn độc, thuốc độc.
5) Nước,
lửa, oán tặc, đao binh, súng ống, gông, cùm, lao
ngục... đều chẳng mắc phải.
6) Những
tội nghiệp đã tạo khi trước thảy đều tiêu diệt.
7) Ðêm ngủ
mộng thấy điềm lành, hoặc thấy thân sắc vàng thắng
diệu của Phật A Di Ðà.
8) Tâm
thường hoan hỷ, vẻ mặt tươi tắn, khí lực sung mãn,
việc làm tốt đẹp.
9) Thường
được hết thảy mọi người trong thế gian cung kính lễ
bái giống hệt như kính Phật.
10) Lúc lâm
chung tâm không hãi sợ, chánh niệm hiện tiền. Tây
Phương Tam Thánh dùng đài vàng tiếp dẫn vãng sanh
Tịnh Ðộ, liên hoa hóa sanh, hưởng sự vui thắng diệu.
Xin quý vị
chú ý:
Trong mười điều lợi ích này, chín điều trước đều là
những lợi ích chuyển hóa nghịch cảnh, tiêu trừ tai
nạn. Ðiều lợi ích cuối cùng là thân sau thoát khỏi
luân hồi.
Trang 2
|
|
III. Phương pháp niệm Phật
1. Khóa lễ
sáng chiều đơn giản nhất
- Nam mô
đại từ đại bi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (niệm
một lần, lễ một lạy, hoặc chỉ chắp tay).
- Nam mô
đại từ đại bi A Di Ðà Phật (niệm một lần, lễ một
lạy, hoặc chỉ chắp tay).
- Nam mô A
Di Ðà Phật (không cần lễ bái, chỉ cung kính niệm.
Quỳ niệm, ngồi niệm, đứng niệm đều được. Tối thiểu
là trăm câu đến ngàn câu, vạn câu tùy theo công việc
rảnh hay bận của mỗi người. Chỉ nên từ ít tăng lên
nhiều, đừng từ nhiều giảm xuống ít).
- Nam mô
Quán Thế Âm Bồ Tát (một niệm, một lạy).
- Nam mô
Ðại Thế Chí Bồ Tát (niệm một niệm, một lạy. Quán
Âm, Thế Chí là hai vị hiệp sĩ [Bồ Tát thị giả thân
cận] của đức A Di Ðà, thường gọi chung là Tây Phương
Tam Thánh. Niệm Phật xong, lẽ đương nhiên nên lạy
hai Ngài)
- Nam mô
Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát (một niệm, một
lạy. Cực Lạc thế giới có rất nhiều vị Bồ Tát, tương
lai đều là thầy bạn của mình nên cũng nên lễ bái)
Nguyện đem
công đức này,
Trang nghiêm Phật tịnh độ
Trên đền bốn ân trọng
Dưới cứu khổ ba đường
Nếu có ai thấy nghe,
Ðều phát tâm Bồ Ðề,
Hết một báo thân này.
Cùng sanh cõi Cực Lạc.
|
(Ðây là
bài hồi hướng, cũng nói về nguyện lực niệm Phật của
mình).
Lễ bái lui ra.
*
Phụ chú:
Mỗi ngày
sáng chiều hai lượt thực hành công khóa trên đây.
Rửa tay, súc miệng, đối trước tượng Phật thắp hương,
đảnh lễ, theo đúng pháp tụng niệm. Nếu không có
tượng Phật hoặc chỗ mình ở không thuận tiện thì
không đốt hương, không đảnh lễ cũng được, chỉ hướng
mặt về Tây, trong lòng cung kính thì cũng có công
đức tương tự. Ðừng niệm những chữ ghi trong dấu
ngoặc.
2. Phương
pháp niệm Phật mười hơi
Cho đến hết
một hơi, niệm dăm ba câu hoặc sáu bảy câu “Nam mô A
Di Ðà Phật”. Niệm hết mười hơi như vậy bèn niệm bài
hồi hướng một lượt, lễ bái lui ra.
* Phụ chú:
Cách này
dành cho người cực kỳ bận rộn, chỉ tốn thời gian
không quá năm phút. Ðiều trọng yếu nhất là mỗi ngày
sáng chiều phải thực hành một lần. Vạn phần chẳng
được gián đoạn. Có tượng Phật thì đối trước tượng
Phật niệm tụng, không có tượng Phật thì hướng về
phía Tây mà làm.
Hai cách
niệm Phật vừa đề cập trên là dành cho người quá bận
rộn. Nếu có lúc rảnh rỗi thì sau khi niệm “Nam mô
đại từ đại bi A Di Ðà Phật”, tụng một quyển kinh A
Di Ðà, tụng ba biến chú Vãng Sanh, tán Phật một lượt
thì càng hay. Cách hành trì này tối đơn giản, hợp
thực tế, quyết định thành công.
Trang 3
|
|
IV.
Trợ duyên để niệm Phật thành công
1.
Tiêu chuẩn đơn giản để phân biệt thiện ác
Niệm Phật
là chánh nhân, làm lành là trợ duyên, giống như chim
có hai cánh mới có thể bay cao. Nhưng người đời
thường chẳng nhận rõ giới tuyến giữa thiện ác.
Chuyện lành vằng vặc chẳng hay là lành, điều ác rành
rành nào hay là ác. Ở đây, tôi căn cứ theo kinh Thập
Thiện Nghiệp Ðạo để nêu ra một tiêu chuẩn: nếu ngăn
dè thì là thiện, nhược bằng trái phạm thì là ác. Ðể
dễ hiểu, tôi dùng biểu đồ sau:
|
3 nghiệp nơi thân |
Sát sanh |
|
Trộm cắp |
|
Tà dâm |
|
4 nghiệp nơi miệng |
Nói dối (vọng ngữ) |
|
Nói thêu dệt (ỷ ngữ) |
|
Ác khẩu |
|
Nói đôi chiều (lưỡng thiệt)
|
|
3 nghiệp nơi ý |
Tham |
|
Sân |
|
Si |
Phàm là
động vật có sanh mạng, bất luận lớn hay nhỏ, cứ làm
thương tổn chúng đều là “sát sanh”. Phàm là tài vật
hay danh dự, dù nhiều, ít, lớn nhỏ, nếu chẳng phải
là vật của mình, chưa được đối phương chấp thuận mà
công khai đoạt lấy, hay trộm lén, cưỡng chiếm, lừa
lấy thì đều là “trộm cắp”. Ngoài vợ chồng chánh
thức, hễ hành dâm với hết thảy chúng sanh, chẳng
luận vì lý do nào đều là “tà dâm”.
Ôm lòng
khinh lừa, nói lời giả dối thì gọi là “vọng ngữ”.
Chẳng luận là ngôn ngữ hay văn tự, đã viết ra, đã
nói ra, tự mình đề xướng, hoặc hùa theo, tạo ảnh
hưởng thương phong bại tục thì gọi là “ỷ ngữ”. Lời
lẽ thô bạo, chửi mắng người thì gọi là “ác khẩu”.
Khuấy động thị phi giữa hai bên, ly gián cảm tình
người khác thì gọi là “lưỡng thiệt”.
Mê đắm các
thứ vật dục chẳng bỏ, đã có lại mong có thêm là Tham.
Có việc bất như ý, tâm nổi nóng, phát nộ khí thì là
Sân. Không có lý trí, gặp việc mê hoặc; đối với đạo
lý Phật nói, kinh sách thánh hiền đều chẳng nghe
theo, lại chẳng tin nhân quả thì là Si.
2.
Ba đại yếu quyết để vãng sanh Cực Lạc: Tín, Hạnh,
Nguyện
Niệm Phật
vãng sanh Cực Lạc là một phương pháp đặc biệt ngoài
tám vạn bốn ngàn pháp môn của Phật, được gọi là “môn
dư đại đạo” (đạo lớn nằm ngoài các pháp môn). Sự tuy
đơn giản, lý thực thâm áo, chẳng thể dùng dăm ba câu
trình bày tường tận được.
Cần phải
biết là đức Phật đạo đức tối cao không ai bằng được,
lời Ngài nói ra tuyệt không dối người. Chỉ nên tin
thật có cõi Cực Lạc, niệm Phật được sanh về đấy. Ðó
chính là yếu quyết thành công thứ nhất.
Lại phải
chịu nhận rõ đời ác ngũ trược đây, phát khởi tấm
lòng chân thật, nguyện sanh về thế giới Cực Lạc. Ðấy
chính là yếu quyết thành công thứ hai.
Ðã tín,
nguyện rồi lại nên theo đúng phương pháp, mỗi ngày
định giờ giấc thực hành công khóa. Ðấy chính là yếu
quyết thành công thứ ba.
Trang 4
|
|
V. Những bậc tiền bối mô phạm và kinh
điển nên tham khảo
1.
Một vài vị sư trưởng cổ, kim
Pháp
môn Niệm Phật vốn phát xuất từ bi tâm độ sanh
triệt để của đức Thích Ca. Pháp môn này giản
tiện nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất, cao siêu
nhất. Nếu chẳng tu nổi pháp môn này thì đừng bàn
đến phương pháp nào khác nữa. Ðiểm hay của pháp
môn này là người học vấn càng rộng thì càng
nghiên cứu, càng thấu hiểu cao sâu, mà người
chẳng biết một chữ vẫn tu tập được. Chỉ tiếc cho
những kẻ không hiểu rõ lý này, cứ cho là cách tu
của mấy bà già lụm cụm, không khỏi là lầm lạc
lớn lắm ư?
Xin hãy
xem trên hội Hoa Nghiêm, hai vị đại thánh Văn
Thù, Phổ Hiền đều khuyên tu. Hai vị đại Bồ Tát
Mã Minh, Long Thọ của Ấn Ðộ đều soạn luận hoằng
dương. Các bậc cổ đức Trung Hoa từ Huệ Viễn đại
sư cho đến Ấn Quang đại sư, lịch đại tổ sư đa
phần là tu các tông khác từ trước, sau đều quy
hướng Tịnh Ðộ. Ðàm Loan đại sư được xưng tụng là
hàng nhục thân Bồ Tát, Trí Giả đại sư là bậc
truyền đăng trong nhà Phật đều hoằng truyền Tịnh
Ðộ. Cận đại, Ðế Nhàn đại sư của tông Thiên Thai,
Thái Hư đại sư của tông Duy Thức, Hoằng Nhất đại
sư bên Luật tông, hai vị đại sư Hư Vân, Viên Anh
bên nhà Thiền đều có trước tác hoằng dương Tịnh
Ðộ.
Về phía
cư sĩ, có các vị hiền giả như ông Lưu Lôi ở Lô
Sơn đời Tấn, Bạch Lạc Thiên đời Ðường; Tô Ðông
Pha, Văn Ngạn Bác đời Tống; Viên Hoằng Ðạo đời
Minh, Bành Xích Mộc (Bành Tế Thanh), Dương Nhân
Sơn... đời Thanh. Họ đều là bậc đại học vấn, ai
nấy đều đặt tâm nơi Tịnh Ðộ. Những vị này ai
cũng biết đến. Còn nhiều vị như thế, nhất thời
chẳng thể nêu rõ hết, nên cũng không nói thêm
nữa.
Chúng
ta hãy tự vấn: trí huệ, đức năng của mình so với
những bậc thánh hiền ấy, ai cao, ai thấp? Họ đều
là bậc tu Tịnh, hoằng Tịnh. Trái lại, bọn ta lại
xem thường. Tri kiến như vậy có thể nói là tri
kiến chánh xác được chăng?
2.
Kinh điển nên tham khảo
Tam
Tạng kinh điển đâu đâu cũng chỉ dạy, quy hướng
pháp môn Tịnh Ðộ, nhưng ai có thời gian nghiên
cứu trọn hết, nên trước hết chỉ kể những kinh
điển chuyên biệt.
Về kinh
có A Di Ðà kinh, Vô Lượng Thọ kinh, Quán Vô
Lượng Thọ kinh. Trong ba bộ này, tối thiểu là
phải đọc kinh A Di Ðà mấy lượt. Nếu đủ sức, nên
đọc kỹ bộ Tịnh Ðộ Thập Yếu đôi ba lượt ngõ hầu
hiểu đại khái pháp môn Tịnh Ðộ. Nếu chẳng hiểu
nổi thì những cuốn như Kỹ Lộ Chỉ Quy, Sơ Cơ Tịnh
Nghiệp Chỉ Nam, Phật Pháp Ðạo Luận... là những
cuốn sách nhỏ viết bằng thể văn bạch thoại để
tiếp dẫn người sơ cơ.
Tịnh Ðộ
Tam Yếu Thuật Nghĩa, Long Thư Tịnh Ðộ Văn
là
những tập sách nhỏ viết theo thể loại văn ngôn,
tùy sức đọc vài lượt cũng hiểu được đại lược
những điểm quan trọng. Ấn Quang Ðại Sư Văn Sao giống như một quyển ngữ lục của Tịnh Ðộ,
An Sĩ
Toàn Thư có những mẫu chuyện cũ khá hứng thú.
Hai quyển này là có thể giúp người học khai phát
trí huệ, chánh tri kiến.
Nếu có
thể đọc hết các sách trên xong, xem thêm các
kinh khác sẽ thấy dễ dàng hơn.
Trang 5
|
|
VI. Hai loại tâm lý sai lầm thường gặp
1.
Chấn chỉnh kiến chấp phổ biến “tâm tốt thì
cũng giống như niệm Phật”
Tâm ai nấy
đều đầy dẫy tham, sân, si, thân thường luôn gây tạo
sát, đạo, dâm, vẫn cường điệu cố nói là tâm mình
tốt, chẳng phải là lầm lạc đến mức cùng cực ư? Giả
sử như có tâm tốt thật sự thì cũng chẳng ngoài mười
thứ thiện nghiệp đã nói ở phần trên mà thôi. Ðấy chỉ
đáng gọi là “tu phước”, kiếp sau sẽ hưởng tiểu quả
nhân, thiên, chứ vẫn không thoát khỏi luân hồi.
Chẳng đến được cõi Cực Lạc là do đi không đúng
đường. Muốn vãng sanh Cực Lạc thì phải tu Huệ, mà tu
Huệ chính là niệm Phật. Nhân thế nào, quả thế ấy.
Phước là phước, huệ là huệ, phải phân biệt rõ ràng,
chẳng thể coi là cá mè một lứa đến nỗi lầm lạc đại
sự được.
2.
Chấn chỉnh lời viện cớ “bận rộn quá không có
thời gian niệm Phật”
Niệm Phật
chuyển biến nghịch cảnh, tiêu trừ tai nạn, sanh về
Cực Lạc, còn sự nào lớn lao hơn pháp này nữa, nhưng
lại xem rất thường. Phần nhiều người đời hay viện
mấy lý do như quá bận rộn, không có thời gian để cự
tuyệt pháp đại tiện nghi vạn kiếp khó được gặp gỡ
này, thật đáng tiếc quá!
Có thật sự
bận rộn hay chăng? Tôi chẳng thấy vậy. Niệm Phật thì
đi, đứng, nằm, ngồi đều làm được; dù là sĩ, nông,
công thương đều chẳng trở ngại gì. Nếu chẳng tin thì
dưới đây tôi sẽ dẫn một bài ca ngắn để người đời đối
với những sinh hoạt thường nhật có thể phân tích rõ
ràng. Tôi tin rằng sau khi xem bài ca này xong, nhất
định quý vị sẽ chẳng còn cười được nữa.
|
Bài ca chẳng nhàn
Biết ngài vốn chẳng bận,
Cứ cố nói chẳng nhàn,
Trong hai mươi bốn giờ,
Nằm ngủ mất tám giờ,
Ba bữa ăn ba tiếng
Lại uống trà, hút thuốc
Chải gỡ, đại tiểu tiện,
Phí mất khoảng một giờ,
Ði ra ngoài uống rượu
Về chuyện gẫu cùng vợ
Ít nhất vài ba giờ,
Lại e lòng bận bịu,
Thân mệt tính ngủ trưa,
Ngủ hai giờ chẳng đã,
Mất đi mười sáu giờ,
Uổng phí hơn quá nửa,
Trong tám giờ còn lại,
Chưa chắc đã bận thật.
Niệm Phật được nửa tiếng
Ðã kêu lâu lắm rồi
Hãy xem người xưa nay,
Mấy ai bảy mươi tuổi,
Ðừng đem khổ sanh tử,
Vất ra đằng sau ót,
Việc chân chánh của mình,
Vạn vạn lần khẩn cấp,
Xin hãy gấp tỉnh ngộ,
Mau trồng chín phẩm sen.
|
* Phụ
Lục
Yếu quyết
niệm Phật: Trong lúc niệm Phật, hết thảy mọi sự
trong tâm đều buông xuống hết, đừng nghĩ tưởng loạn
xạ, chỉ còn quan tâm đến sáu chữ hồng danh từ tâm
mình phát khởi, từ miệng mình vang ra, lọt vào chính
tai mình, in sâu vào tâm. Phải tưởng cho rõ, niệm
cho rõ, nghe cho rõ. Có như vậy thì mới cảm ứng
được.
Trang 6
|
|
VII.
GIẢI ÐÁP NGHI VẤN
1) Có
người nói: Chúng tôi là công chức, giáo chức, ở
cư xá công cộng thì cúng Phật, lễ Phật, đương
nhiên là bất tiện, niệm Phật cũng làm phiền
người khác bất an, tôi chẳng biết làm sao?
Ðáp:
Chốn công cộng đúng thật là có nhiều nỗi bất
tiện, nhưng việc gì cũng có cách để dung thông
cả. Nếu như đã biết niệm Phật là đại sự thì cứ
thành tâm thầm niệm, ắt có hiệu quả lớn. Bởi lẽ
tâm niệm còn càng khẩn mật hơn miệng niệm, bất
tất phải cúng Phật, lễ Phật ra tiếng.
***
2) Có
người nói: Niệm Phật tuy tốt, nhưng phải đến
chùa, miếu, liên xã hay trai đường, tôi không có
thời gian.
Ðáp:
Không nhất định phải đến những nơi đó, không có
thời gian đi ra ngoài, nhưng chẳng lẽ ở nhà
không có thời gian nào rảnh sao? Cứ ở nhà niệm
Phật nào có trở ngại chi.
***
3) Có
người nói: Niệm Phật là việc của kẻ có tiền, tôi
không có tiền bạc dư dả!
Ðáp:
Thế là lại càng lầm hơn nữa! Niệm Phật chẳng tốn
tiền mấy. Ba cây nhang đáng giá là bao? Dù chẳng
đốt lấy một cây nhang cũng chẳng quan hệ gì. Chỉ
cốt sao trong tâm cung kính là đủ.
***
4) Có
người nói: Niệm Phật là phải ăn chay, tôi không
làm được, cho nên tôi không thể niệm Phật?
Ðáp:
Tạm thời bất tất phải ăn chay, chỉ nên kiêng sát
sanh thì cũng có công đức lớn. Có thể tập ăn ba
thứ tịnh nhục, tức là: không vì mình mà giết,
chẳng thấy con vật bị giết, chẳng nghe nó bị
giết. Cá, thịt ngoài chợ làm sẵn rất nhiều, đủ
để cho quý vị ăn rồi.
***
Trang 7
|
|
VIII. NIỆM PHẬT TAM ÐẠI LỢI ÍCH (BA
ÐIỀU LỢI ÍCH LỚN CỦA NIỆM PHẬT)
1) Một
câu Phật hiệu tiêu diệt trọng tội trong tám mươi
ức kiếp sanh tử (thuộc về quá khứ)
2) Một
câu Phật hiệu tiêu diệt phiền não của nhân sanh,
tiêu tai, diên thọ, hưởng phước huệ (thuộc về
hiện tại)
3) Một
câu Phật hiệu khiến ta thoát khỏi lục đạo luân
hồi, vãng sanh thế giới Cực Lạc, vĩnh viễn
trường sanh bất diệt (thuộc về tương lai)
Trang 8
|
|
IX.
PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT
Hỏi:
Niệm Phật không chỉ là dùng miệng niệm mà phải
chú tâm đúng không?
Ðáp: Có
nhiều người miệng tuy niệm Phật nhưng chẳng để
tâm vào đó, trong lòng toàn là suy xằng nghĩ
loạn. Niệm như vậy cũng vô dụng. Miệng niệm Phật
thì tâm phải tưởng Phật, tâm khẩu nhất như.
Ngoại trừ một câu niệm Phật ra không còn nghĩ
đến gì khác nữa, không còn có ý niệm nào khác
khởi lên. Có vậy mới gọi là “Nhất Tâm Bất Loạn’,
từ đó mới dễ thành công.
***
Hỏi:
Như vậy chẳng phải là khó lắm ư?
Ðáp:
Xem kìa! Một mặt quý vị chê niệm Phật quá dễ
dàng, một mặt lại sợ nó quá khó. Thật sự ra, một
pháp Niệm Phật đây, bảo là dễ thì nó cực dễ, bảo
là khó thì nó cũng cực khó. Chẳng qua là chẳng
cần biết là khó hay dễ, chỉ đáng kể mình có thể
bền lòng niệm được nhiều hay không. Lâu ngày
chầy tháng, tự nhiên tâm chẳng loạn nữa. Lời tục
thường nói: “Trên đời không có việc gì khó,
chỉ sợ tâm chẳng chuyên”, chính là ý này.
Lại có
một cách niệm Phật như sau: mỗi lúc niệm Phật,
mỗi chữ phải phát xuất từ trong tâm. Trong tâm
tưởng thật rõ ràng, miệng niệm cho thật rõ ràng,
tai nghe thật rõ ràng. Mỗi một chữ phát xuất từ
trong tâm, thấu qua tai lọt vào tâm, một chữ
cũng chẳng để lọt mất. Tu tập lâu dài như vậy,
tâm tự nhiên chẳng còn tán loạn. Ðấy chính là
một phương pháp khẩn yếu bậc nhất, ngàn vạn phần
chớ quên.
***
Hỏi:
Nên niệm Phật vào lúc nào?
Ðáp:
Nên niệm Phật vào hai thời sáng tối, lập một
công khóa nhất định, hạn định số câu niệm Phật
nhiều ít: hoặc là mấy trăm câu, mấy ngàn câu,
tùy theo hoàn cảnh mỗi người mà định số. Chẳng
cần biết là rảnh hay bận, không niệm đủ số đó
không được. Còn ngoài ra thì chẳng cần biết là
lúc nào, đang ở chỗ nào đều niệm được cả. Càng
niệm nhiều càng tốt. Thời gian niệm càng lâu
càng hay.
***
Hỏi:
Vừa làm việc vừa niệm Phật được không?
Ðáp:
Lúc đang vác củi, gánh nước cũng niệm Phật được.
Lúc đang cọ nồi, rửa chén cũng niệm Phật được.
Lúc cày bừa, cuốc xới, cắt cứa cũng niệm Phật
được. Chẳng luận là đi, ngồi, ngủ nghê, thậm chí
lúc đang đại tiểu tiện cũng đều có thể niệm
Phật. Nói chung, trừ lúc phải dùng trí óc làm
việc, ngoài ra thì dù đang làm gì cũng chẳng trở
ngại việc niệm Phật cả.
***
Hỏi:
Nên niệm Phật lớn tiếng hay là niệm nhỏ tiếng?
Ðáp:
Niệm lớn tiếng cũng tốt, niệm nhỏ tiếng cũng
hay. Miệng không niệm nhưng tâm thầm niệm cũng
tốt. Chỉ trừ lúc đang nằm trên giường hay đang ở
chỗ không sạch sẽ thì nên thầm niệm trong tâm,
chẳng được niệm ra tiếng. Niệm ra tiếng là không
cung kính. Nhưng lúc gặp chuyện nguy cấp, chẳng
cần biết là đang ở chỗ nào, cứ việc niệm ra
tiếng.
***
Hỏi:
Học Phật thì nên thờ hình Phật nào?
Ðáp:
Thờ một mình đức A Di Ðà Phật hoặc tượng Tây
Phương Tam Thánh đều được (A Di Ðà Phật và hai
vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí gọi là Tây
Phương Tam Thánh).
***
Hỏi: Nên thờ tượng Phật ở chỗ nào?
Ðáp:
Nếu có phòng trống, dành riêng một phòng thờ
Phật là tốt nhất. Nếu không có, thờ Phật ngay
trong phòng mình ở cũng được. Nói chung là phải
chọn nơi sạch sẽ. Trước tượng treo màn vải vàng,
lúc không niệm Phật, buông màn xuống. Làm vậy để
khỏi đến nỗi khinh nhờn. Tốt nhất là để tượng
Phật hướng mặt về Ðông, người niệm Phật đối
trước tượng Phật, hướng mặt về Tây. Nếu chẳng
thể làm vậy được thì thờ tượng ở phương nào
thuận tiện cũng được.
***
Hỏi:
Nếu không có chỗ nào thuận tiện, không thờ Phật
có được không?
Ðáp:
Nếu thực sự không có chỗ nào thuận tiện, miễn
sao tâm thành thì không thờ tượng Phật cũng
được. Lúc niệm Phật hướng về Tây là ổn.
***
Hỏi:
Nên dùng những thứ gì để cúng dường Phật?
Ðáp:
Thông thường dùng hương, hoa, đèn, nước trong,
trái cây v.v... Nếu không lo liệu được, thiếu
một vài thứ hoặc không có thứ gì hết cũng xong.
Nhưng tuyệt đối chẳng được cúng rượu hoặc đồ mặn
cũng như đốt giấy tiền, vàng mã trước Phật.
***
Hỏi:
Nên hành lễ trước Phật như thế nào?
Ðáp:
Tùy ý. Hoặc là dập đầu lạy, hoặc là vái, hoặc
khom mình, hoặc chắp tay; nhưng dập đầu lễ bái
là cung kính nhất, có thể tiêu tội, tăng phước.
***
Hỏi:
Lúc niệm Phật có nên quỳ trước mặt Phật không?
Ðáp:
Chẳng nhất định. Quỳ niệm, đứng niệm, vừa đi vừa
niệm đều được. Cốt yếu là phải thành tâm. Quỳ
niệm rất tốt mà ngồi niệm cũng hay.
***
Hỏi: Cụ
nói hai thời niệm Phật sáng tối, phải lập một
khóa trình, phiền cụ lập cho tôi một khóa trình
có phải là hay hơn không?
Ðáp:
Khóa trình vốn là dựa theo thời gian, sức lực
của chính mỗi người mà quy định. Ngài đã cầu tôi
thì tốt nhất là tôi soạn ra một nghi thức thật
đơn giản cho ngài vậy.
Nếu như
ngài có sức thì có thể hành trì thêm nhiều hơn,
có thể thêm vào kinh Di Ðà, chú Vãng Sanh, kệ
Tán Phật, văn Ðại Phát Nguyện. Những bài kinh ấy
trong sách Thiền Môn Nhật Tụng có chép đủ cả,
những chỗ lưu thông kinh Phật đều có. Khóa sáng
thì lúc vừa ngủ dậy, khóa tối thì trước khi đi
ngủ, rửa tay, súc miệng, đến trước tượng Phật,
thắp nhang, dâng nước, chắp tay cung kính, rồi
quỳ hoặc đứng, hoặc ngồi xếp bằng, dùng tâm chí
thành niệm theo thứ tự sau:
- Nam
mô thập phương Thường Trụ Tam Bảo
(niệm một lần, lễ một lạy).
- Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
(niệm một lần, lễ một lạy).
-
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ
đại bi A Di Ðà Phật
(niệm một lần, lễ một lạy).
- Nam
mô A Ðà Phật
(trăm câu, ngàn câu, hai, ba ngàn câu, càng
nhiều càng hay. Tùy mỗi người rảnh hay bận mà
định số, nhưng phải từ ít tăng lên nhiều, chẳng
được từ nhiều giảm ít đi. Vô luận niệm nhiều hay
ít, chẳng cần phải lạy).
- Nam
mô Quán Thế Âm Bồ Tát
(niệm một tiếng, lễ một lạy, hoặc niệm ba lần,
lễ ba lạy).
- Nam
mô Ðại Thế Chí Bồ Tát
(niệm một tiếng, lễ một lạy, hoặc niệm ba lần,
lễ ba lạy).
- Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát
(niệm một tiếng, lễ một lạy, hoặc niệm ba lần,
lễ ba lạy).
Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật Tịnh Ðộ.
Trên đền bốn ân nặng.
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có ai thấy nghe.
Ðều phát lòng Bồ Ðề,
Hết một báo thân này,
Cùng sanh cõi Cực Lạc.
(lễ ba lạy)
*** |
Hỏi:
Khóa trình này rất hay, xin giảng thêm về chữ
“thập phương Tam Bảo”.
Ðáp:
Tám phương, phương trên và phương dưới gọi là
mười phương. Phật, Pháp, Tăng là Tam Bảo. Phật
là Giáo Chủ. Pháp là kinh điển để tu nhân chứng
quả do Ðức Phật giảng. Tăng là những pháp tử
chiếu theo lời Phật dạy tu hành, đã chứng thánh
quả Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, và các cao
tăng đạo cao, đức trọng, hoằng pháp lợi sanh.
Phật,
Pháp, Tăng đều gọi là Bảo (quý báu) vì có thể
phát sanh, tăng trưởng pháp thân, huệ mạng của
hết thảy chúng sanh, giống như của báu trong thế
gian có khả năng nuôi sống thân mạng của con
người. Phải hiểu rằng khi niệm Tam Bảo chính là
biểu thị mình hoàn toàn lấy Phật, kinh điển Phật
nói và các vị Bồ Tát, cao tăng tu hành đúng theo
lời Phật làm thầy của mình. Mình từ những vị đó
quy hướng trở thành tín đồ Phật giáo.
***
Hỏi:
Xin hỏi vì sao phải niệm Phật Thích Ca?
Ðáp: Là
vì pháp môn Niệm Phật do chính Ngài dạy cho
chúng ta. Niệm Phật lạy Ngài chính là chẳng dám
quên bỏ nguồn gốc vậy.
***
Hỏi:
Tại sao lại còn phải niệm Quán Thế Âm và Ðại Thế
Chí Bồ Tát?
Ðáp:
Vì người niệm Phật lúc lâm chung, hai vị Bồ Tát
này cùng với đức A Di Ðà Phật đồng thời đến tiếp
dẫn về Tây Phương. Vì thế niệm Phật xong phải
niệm danh hiệu và lễ bái hai vị Bồ Tát này.
***
Hỏi:
Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát là những vị Bồ
Tát nào?
Ðáp:
Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát là tất cả những
vị Bồ Tát trong thế giới Cực Lạc đều rất thanh
tịnh. Ba chữ Ðại Hải Chúng ngụ ý các vị Bồ Tát
ấy nhiều như nước biển. Sớm muộn gì ta cũng sẽ
làm bầu bạn với các vị Bồ Tát ấy, vì thế cần
phải niệm niệm lễ bái họ.
***
Hỏi: Kệ
Hồi Hướng có tác dụng gì?
Ðáp:
Công dụng của bài kệ Hồi Hướng rất lớn. Người tu
hành bất luận là niệm Phật, hay niệm kinh, niệm
xong, nhất định phải niệm kệ
Hồi Hướng một lượt.
Hồi Hướng có nghĩa là gom về, tức là một phương
pháp đem công đức niệm Phật, niệm kinh gom về
một nơi. Gom về nơi nào? Gom về việc cầu sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới!
Chẳng
riêng gì niệm Phật, niệm kinh mới hồi hướng về
Cực Lạc thế giới, mà bất luận làm việc lành nào
cũng đều phải hồi hướng về Cực Lạc thế giới.
Càng tích thêm được một phần công đức thì hy
vọng được vãng sanh càng tăng thêm một phần. Nếu
làm công đức nhưng chẳng hồi hướng cầu sanh về
Cực Lạc thế giới thì chỉ sợ đời sau chỉ được
hưởng báo ứng trong cõi trời, cõi người, vẫn cứ
luân hồi trong lục đạo, chẳng được giải thoát.
Phước báo càng lớn, càng dễ tạo tội, nên kiếp kế
tiếp đó càng đáng sợ hơn.
Vì thế,
người học Phật phải nên đem hết thảy công đức
hồi hướng vãng sanh Tây Phương thì lúc lâm chung
mới có hy vọng được sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Nhưng niệm bài kệ
Hồi Hướng cũng giống
như niệm Phật, phải từng chữ, từng câu phát xuất
từ nội tâm, chẳng thể niệm xuông nơi cửa miệng
được.
***
Hỏi:
Xin cụ giảng qua ý nghĩa từng câu trong bài kệ
Hồi Hướng.
Ðáp:
Câu thứ nhất và câu thứ hai nghĩa là ta đem công
đức niệm Phật hỗ trợ cõi Tịnh Ðộ của Ðức Phật A
Di Ðà khiến cho nó càng thêm tốt đẹp phi thường.
Câu thứ ba nghĩa là lại đem công đức ấy trên là
báo đáp bốn tầng ân đức: cha, mẹ, sư trưởng và
đức Phật. Câu thứ bốn nghĩa là dưới thì dùng
công đức cứu vớt những chúng sanh khổ não trong
ba đường ác: súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ. Câu
thứ năm và thứ sáu nghĩa là nếu có ai thấy, nghe
người đang niệm Phật, niệm kinh sẽ đều phát khởi
tấm lòng trên cầu Phật Quả, dưới độ chúng sanh.
Câu thứ bảy và thứ tám nghĩa là sau khi cái thân
báo ứng này đã hoàn toàn chấm dứt thì mọi người
sẽ cùng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Giải thích theo từng câu văn thì ý nghĩa của bài
kệ Hồi Hướng là như vậy.
Nói
chung, tám câu kệ này lại có hai tầng ý nghĩa
lớn.
Tầng
thứ nhất là: Chúng ta niệm Phật là để cầu sanh
về Tây Phương, chứ chẳng phải vì cầu công danh,
phú quý hay hết thảy những điều tốt đẹp của thế
gian.
Tầng
thứ hai là: Chúng ta niệm Phật là để cứu độ hết
thảy chúng sanh thoát ly khổ hải, chứ chẳng phải
vì riêng bản thân mình. Ðã hiểu rõ tầng ý nghĩa
thứ hai này rồi thì bất luận là niệm Phật, niệm
kinh hay làm bất cứ điều lành gì đều luôn giữ
tấm lòng như thế, hồi hướng như thế. Có như vậy
mới là người học Phật phát Bồ Ðề tâm chân chánh.
***
Hỏi:
Khóa trình cụ vừa lập ở trên cố nhiên rất đơn
giản, nhưng có người quá đỗi bận rộn, không lúc
nào rảnh thì làm sao thực hiện được?
Ðáp:
Vẫn có biện pháp. Chẳng luận là đang ở đâu hay
bất cứ lúc nào (niệm vào lúc sáng sớm tốt nhất),
hướng mặt về Tây, lễ ba lạy, liền niệm sáu chữ
“Nam mô A Di Ðà Phật” cho đến hết một hơi. Hơi
dài thì niệm một hơi mươi câu càng hay. Hơi ngắn
thì một hơi niệm vài câu cũng được. Tổng cộng
niệm đủ mười hơi. Rồi niệm kệ
Hồi Hướng. Niệm
xong, hướng về Tây lạy ba lạy là xong. Ðây gọi
là pháp Thập Niệm. Người rất bận mỗi ngày thành
tâm chiếu theo phương pháp này mà niệm thì tương
lai cũng có thể được sanh về Tây phương Cực Lạc
thế giới, là vì Ðức Phật A Di Ðà đã từng phát
nguyện nên tự nhiên được vãng sanh không sai!
***
Trang 9
|
|
X. CHƯA CHỨNG CHÂN NHƯ THÌ ÐỐI VỚI LÝ
NHÂN DUYÊN
PHẢI RẤT CẨN TRỌNG
Học
Phật chú trọng “hạnh giải tương ứng”. Hiểu
(giải) nhưng không hành giống như kể tên thức
ăn, đếm của cải. Hành mà không hiểu dễ lạc ngõ
rẽ. Cả hai đều mắc lỗi. Nay người tu Tịnh Ðộ chỉ
nói là niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, chỉ biết
bám víu theo quả, đến nỗi chẳng biết những điều
mình niệm đó là đúng pháp hay không, cứ coi nhẹ,
chẳng gia công xem xét. Bởi vậy thành ra mất cả
nhân lực lẫn duyên lực, há chẳng phải là chẳng
biết chăm lo cái gốc đó ư? Kinh dạy: “Nhân
địa chẳng chân sẽ cảm quả cong vậy”. Kinh
còn dạy:
“Duyên là hết thảy công đức thiện căn, hỗ trợ
liễu nhân, khai phát chánh nhân”.
Ôi! Há có nên chẳng suy nghĩ kỹ càng chăng?
Nói đến
Tịnh Ðộ là nói đến quả thanh tịnh, không phiền
não nghịch ác. Niệm Phật là lấy cái tâm không
nghịch ác, phiền não, thanh tịnh làm nhân. Thêm
nữa, hành các điều thiện, vạn đức chính là trợ
duyên cho nhân ấy. Nhân và duyên ví như hai cánh
chim. Phải cùng nâng cả hai cánh mới có thể bay
cao, bay xa, đạt tới chỗ mình hướng đến. Phải
cùng tu cả nhân lẫn duyên thì mới thành tựu được
quả.
Cổ đức
biết rõ như thế nên khi dạy người không vị nào
chẳng đề cao nhân, nào là “thanh tịnh ý mình”,
nào là “tâm tịnh cõi nước tịnh” để hiển thị rằng:
Muốn chứng tịnh quả, phải gieo tịnh nhân. Tuy
bảo là “đới nghiệp vãng sanh”, nhưng nghiệp nói
đó chỉ là nghiệp quá khứ vẫn còn ẩn tàng, chứ
chẳng phải cứ tạo tội nghiệt mà vẫn được vãng
sanh. Ðủ thấy, (chư cổ đức) chẳng chấp nhận (hành
nhân gây tạo) lỗi mới. Hiểu rõ lẽ này thì vạn
người tu, vạn người về. Hễ lầm lạc thì nhân lẫn
lực chẳng đủ, mong chứng quả sao được?
Ba kinh
Tịnh Ðộ đều trọng trợ duyên, cực lực khen ngợi
phước đức. Kinh Tiểu Bổn (kinh
A Di Ðà) dạy:
“Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức nhân
duyên mà được sanh về cõi ấy”. Kinh Ðại Bổn
(kinh Vô Lượng Thọ) dạy: “Khiến cho bỏ ngũ
ác, trừ năm sự đau đớn, lìa khỏi năm sự thiêu
đốt”.
Quán Kinh dạy: “Muốn sanh về cõi ấy nên tu ba
thứ phước”. Kinh dạy rành rành, dù có nhân
nhưng thiếu duyên, dễ đâu thành tựu!
Có kẻ
bảo: “Niệm Phật một câu có thể tiêu trừ trọng
tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Nghiệp đã
tiêu rồi thì cần gì phải nhọc công giảng giải,
suy xét nhân duyên nữa cơ chứ?
Tôi bảo:
“Một niệm sân tâm nổi, mở ra tám vạn chướng môn
(ý nói phiền não chướng). Chướng môn đã mở thì
nghiệp lại chẳng sanh khởi hay sao? Phần lớn
những học nhân hiện thời, một mặt niệm Phật, một
mặt tạo nghiệt, khác nào tay phải quét dọn, tay
trái vẩy bụi. Hãy thử tự vấn mình siêng năng,
lười nhác thế nào; nếu chẳng tự dối mình thì ắt
sẽ câm lặng, hết còn cười được nữa! Bởi thế,
người chắc thật, già dặn niệm Phật thì không một
ai là chẳng kinh sợ nhân duyên. Nhân duyên bất
tịnh, lại chẳng già dặn, chắc thật thì đối với
Hạnh và Giải, có được thứ gì không? Cầu được
vãng sanh kiểu đó chỉ là chuyện mơ tưởng, cầu
may mà thôi”.
Trang 10
|
|
XI. CHẲNG HIỂU GIÁO TƯỚNG THÌ KHÓ THỂ
BÀN CHUYỆN CÓ - KHÔNG
Nhà
Phật nói Không, nói Có, giống như bàn tay và nắm
tay, vốn chỉ là một sự. Kinh dạy: “Sắc tức là
Không, Không tức là Sắc”. Truy đến cội nguồn,
giáo thuyết này phát xuất từ Bát Nhã. Pháp môn
này từ lúc Phật đản sanh mãi cho đến thời thuyết
giáo thứ tư, Phật mới phu diễn; bởi lẽ giáo
thuyết này chẳng dành cho kẻ sơ cơ, phải hiểu rõ
như thế. Người không khéo học cứ khăng khăng
chấp chặt một bề đến nỗi đường rộng thênh thang,
nhưng vẫn đi lạc. Rườm lời loạn xị, càng tăng
tranh cãi, lợi sanh ở chỗ nào?
Hữu là
Diệu Hữu, tức là luận về Tướng. Không là Chân
Không, tức là bàn về Thể. Do
Thể là Không nên
Hữu bất biến. Do Tướng là Có nên
Hữu tùy duyên.
Nhưng thực ra Tướng lại nương vào
Thể mà khởi,
Thể cũng nhờ vào Tướng để hiển lộ. Chẳng phải
Quyền, chẳng phải Thật, là hai, là một. Nếu hiểu
trọn vẹn, lãnh hội được ý chỉ viên tu ấy thì
chắc chắn sẽ chẳng tự mình mâu thuẫn, bảo là có
hai con đường nữa!
Nay
người tin vào Tịnh Ðộ là tin vào những thứ trang
nghiêm được nói trong ba kinh Tịnh Ðộ. Ðấy là
nói về Tướng, hoàn toàn chẳng phải là chuyện ngụ
ngôn của Trang Tử. Kẻ ngờ Tịnh Ðộ, chỉ nói là
“duy tâm tự tánh”, đấy là nói về
Thể, nào phải
là xem thường tam thân của Như Lai. Nếu phỉ báng
lẫn nhau thì khác gì gần lửa toan không chịu
nóng, gần nước toan không chịu bị ướt, sao còn
có nghĩa “Sắc tức Không”, sao còn có nghĩa Bất
Biến Tùy Duyên được nữa?
Phàm
những ai nghiên cứu Tịnh Ðộ đôi chút đều biết
Tịnh Ðộ có bốn phần: cõi Thật Báo là nói về
Tướng, cõi Tịch Quang chẳng phải là luận về
Thể hay sao? Lấy Thể bỏ
Tướng thì cố nhiên Lý chẳng
viên dung mà Sự cũng chẳng chân thật vậy. Nếu
như đối với Tây phương đã chỉ chấp nhận duy tâm
tự tánh làm Thể, chẳng chấp nhận các tướng Cực
Lạc, Di Ðà, ba chỗ trang nghiêm thì lẽ ra đối
với Ðông Ðộ cũng chỉ nên chấp nhận “duy tâm tự
tánh” là thể, chẳng chấp nhận có tướng
Ta Bà,
Thích Ca, tám khổ, tam đồ chứ!
Nếu như
đã chấp nhận các tướng cõi
Ta Bà là có thì cũng
phải chấp nhận các tướng của cõi Cực Lạc chẳng
phải là không. Có vậy thì Sự và Lý mới chẳng mâu
thuẫn. Nếu không thì có khác gì nói người bên
Tây Phương tay chỉ có nắm tay, người Ðông Ðộ tay
chỉ có bàn tay cơ chứ? Hoặc cũng giống như nói:
Tôi chỉ chấp nhận những gì trong tâm, chẳng chấp
nhận những gì ở ngoài tâm. Thử nghĩ xem: Có pháp
nào ở ngoài tâm, ngoài tâm là chỗ nào vậy?
Trang 11
|
|
XII. TÔNG PHÁI
Phật
giáo chia thành các tông phái là vì các học giả
Trung Quốc thấy Phật pháp nhiều như biển cả,
muốn cho dễ tu tập nên mỗi vị chọn lấy một đường
hòng cầu chuyên tinh, chứ nào phải là tạo dựng
môn hộ để cho điều này là đúng, chê điều kia là
sai! Các tông lập danh dựa theo nơi chốn, tên
người, hoặc pháp môn sai khác. Dưới đây tuy liệt
kê danh mục mười tông, nhưng trên thực tế, có
vài tông được rất ít người nghiên cứu.
1.
Thành Thật Tông
(còn gọi là Không Tông)
Pháp sư
Ha Lê Bạt Ma soạn luận Thành Thật
rất giống với
giáo nghĩa Ðại Thừa. Ðại khái là “thành lập ý
nghĩa chân thực của kinh điển”. Vào thời đại
Diêu Tần, khi bộ luận này được đại sư Cưu Ma La
Thập dịch ra thì tông này mới được sáng lập.
2.
Câu Xá Tông
(còn gọi là Hữu Tông)
Chữ
Câu-xá (Kosa) được dịch là Tàng (chứa đựng) hoặc
Kiển (kén tằm), ngụ ý “bao hàm”. Ở Ấn Ðộ, các bộ
luận Tiểu Thừa rất nhiều, sau được kết tập thành
Ðại Tỳ Bà Sa Luận. Bồ Tát Thế Thân dựa theo luận
này chiết trung, soạn thành luận
Câu Xá, dịch
nghĩa là “giải thích phát trí” (cởi mở, đả thông
vướng mắc khiến cho trí huệ phát sanh). Tông này
được thành lập từ khi hai vị Pháp Sư Chân Ðế đời
Trần và Huyền Trang đời Ðường dịch luận này ra
tiếng Hán.
3. Thiền Tông
(còn gọi là Tâm Tông)
Thiền
là gọi tắt của chữ Thiền-na, dịch nghĩa là Tịnh
Lự. Tông này do tổ sư Ðạt Ma vào đời Lương từ
Tây Trúc qua Tàu lập ra, chủ trương “chẳng lập
văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành
Phật”. Ðại khái là đã ngộ rồi mới khởi tu. Tuy
nói là “chẳng lập văn tự” nhưng lại là tông có
nhiều sách vở nghiên cứu về
Bát Nhã nhất.
4. Luật Tông
(còn gọi là Nam Sơn Tông)
Tông
phái này dùng phương pháp y theo những cấm chế
của Phật để tịnh trừ những ác nghiệp nơi thân,
khẩu, ý. Sáng tổ là ngài luật sư Nam Sơn Ðạo
Tuyên đời Ðường, lấy luật Tứ Phần làm kinh điển
chủ yếu.
5. Thiên Thai Tông
(còn gọi là Pháp Hoa Tông)
Ðời
Tùy, đại sư Trí Giả ở núi Thiên Thai lấy kinh
Pháp Hoa làm kinh điển căn bản, sáng lập ra tông
này. Ngài phát minh diệu lý “nhất tâm tam quán”.
Ðối với học thuyết phán giáo giải nghĩa, Ngài đã
hệ thống hóa rất tinh xác. Các tông mỗi khi diễn
giảng giáo nghĩa, đa phần dựa theo phương thức
phán giáo của Ngài.
6. Hiền Thủ Tông
(còn gọi là Hoa Nghiêm Tông)
Hòa
Thượng Ðỗ Thuận đời Ðường lấy kinh
Hoa Nghiêm
làm kinh điển căn bản, sáng lập ra tông này. Ðến
đời tổ thứ ba là đại sư Hiền Thủ lại gia công
chỉnh lý khiến cho giáo nghĩa minh xác, tinh vi
phi thường. Ngài phát minh giáo thuyết “nhất
chân pháp giới”; đây chính là giáo nghĩa uyên áo
nhất của tông này.
7. Từ Ân Tông
(còn gọi là Pháp Tướng Tông, cận đại gọi là Duy
Thức Tông)
Kinh
điển chủ yếu để y cứ của tông này là các
kinh
Lăng Già, Giải Thâm Mật v.v... và
Thành Duy Thức
Luận, chủ trương “chuyển Thức thành Trí”. Ðời
Ðường, do Pháp Sư Huyền Trang ở chùa Từ Ân phiên
dịch, hoằng dương (luận
Thành Duy Thức) nên tông
này mới được thành lập.
8. Tam Luận Tông
(còn gọi Tánh Tông)
Bồ Tát
Long Thọ soạn ra Trung Luận
và Thập Nhị Môn
Luận, Bồ Tát Ðề Bà soạn Bách Luận. Ba bộ luận
này đại khái thuyết minh “nghĩa lý chân thực
trong Ðại Thừa và phá chấp, phá chướng”. Từ khi
ngài Cưu Ma La Thập dịch các bộ luận này vào đời
Diêu Tần, tông này mới được thành lập.
9. Mật Tông
(còn gọi là Chân Ngôn Tông)
Mật có
nghĩa là “bí áo” (kín đáo, sâu thẳm). Ý nói cảnh
giới rất sâu của Phật, nếu chẳng phải là hàng
Ðẳng Giác Bồ Tát thì chẳng thể hiểu rõ, đề ra
phương pháp “tam mật tương ứng, tức thân thành
Phật” (thân, khẩu, ý đều mật, thành Phật ngay
trong thân này). Kinh điển căn bản là kinh
Kim
Cang Ðảnh, kinh Ðại Nhật v.v... Tông này do hai
vị đại sư Kim Cang Trí và Bất Không lập ra vào
đời Ðường. Nhưng hiện tại được lưu hành ở Trung
Quốc chính là Mật giáo Tây Tạng và Mông Cổ, họ
lại chia ra các phái Hồng, Hoàng, Bạch v.v...
10. Tịnh Ðộ Tông
(còn gọi là Liên Tông)
Do đại
sư Huệ Viễn đời Tấn sáng lập, lấy ba kinh
Di Ðà,
Vô Lượng Thọ và Quán Kinh
làm kinh điển chủ yếu.
Chủ trương “bốn pháp niệm Phật, đới nghiệp vãng
sanh Cực Lạc”. Phương pháp của tông này là độ
khắp ba căn, thâu trọn lợi độn. Vì thế, người
tại gia tu tập càng thật tiện lợi.
Thứ tự
của mười tông này là căn cứ theo cuốn
Thích Giáo
Tam Tự Kinh của Lý Xuy Vạn lão nhân đời Minh.
Cuốn này từng được đại sư Ấn Quang trùng đính
vào đời Thanh, sau lại được cư sĩ Dương Nhân Sơn
san định, nhuận sắc. Thứ tự này có lẽ là có dụng
ý. Dùng ý kiến thô thiển của mình để suy xét,
tôi xin thử trình bày như sau:
1) Nếu
căn cứ vào Thừa thì chia ra hai tông thuộc Tiểu
Thừa, bảy tông Ðại Thừa. Luật Tông gồm cả Tiểu
lẫn Ðại. Lẽ tự nhiên là nêu Tiểu trước rồi mới
nêu Ðại, nên Thành Thật và Câu Xá
được nêu trước,
Luật Tông nêu trung gian, kế tiếp nêu tên các
tông khác.
2) Nếu
luận theo giáo nghĩa thì Thiền Tông là “truyền
Phật tâm ấn”, là pháp tối cao, nên nêu tên trước
tiên trong các tông Ðại Thừa. Tịnh Tông độ khắp
ba căn, là pháp rộng nhất nên liệt kê sau cùng;
giống như xe có hai bánh. Các tông khác được kể
ở trung gian khác như thùng xe, gọng xe... Xe có
công năng chuyên chở, bánh xe có sức mạnh vận
chuyển.
3) Nếu
luận về mặt hành trì thì Giới Luật là căn bản
của các hạnh nên ngay sau khi biết Thiền, hiểu
Tông thì trước hết phải lấy ngay Luật làm căn
bản chánh. Học quý cầu hiểu, tánh - tướng của
hai tông Thiên Thai, Hiền Thủ đều là kim chỉ nam
cho giáo lý nên phải được nêu ngay tiếp sau đó
để người học hiểu rõ giáo tướng. Hiểu rồi thì
quý ở chỗ thực hành nên Mật, Tịnh chính là các
phương pháp chuyên tu trì được nêu sau rốt,
khiến cho người học biết chỗ quy túc.
Trong
mười tông, hai tông Luật và Tịnh đều mang đặc
tánh phổ thông. Chẳng cần biết là tông nào, đều
phải thọ trì giới luật, đều có thể kiêm tu niệm
Phật. Bởi lẽ, không giới hạnh thì vạn đức chẳng
lập, có niệm Phật thì sẽ thành tựu ổn thỏa nhất.
Tiếp Theo
Phần 2
Trang 12
|
|
|
|
|
|