TUYẾT HƯ LĂO NHÂN TỊNH ĐỘ TUYỂN TẬP
(Tuyển
tập
những
bài viết
về
Tịnh
Độ
của
lăo cư
sĩ Lư Bỉnh
Nam)
Trích dịch: Bửu Quang Tự đệ tử Như
Ḥa
MỤC
LỤC
Vi tính
và tŕnh bày: Ban biên tập www.thondida.com
Cập nhật: Ngày 01 tháng 12 năm 2008 – Tại
Melbourne - Úc Châu
|
|
|
“Thật v́ sanh tử, phát Bồ Đề,
Dùng tín nguyện sâu tŕ danh hiệu Phật”.
Triệt Ngộ đại sư
***
“Như Lai sở dĩ hưng xuất thế,
Duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải”.
Thiện Đạo đại sư
***
“Được văng sanh hay không
đều do Tín, Nguyện có hay không,
Phẩm vị cao hay thấp
đều do hành tŕ sâu hay cạn”.
Ngẫu Ích đại sư
***
“Chỉ duy tŕ danh mà chứng thiệt tướng,
Không cần quán tưởng cũng thấy Tây Phương!”.
Ấn Quang đại sư
***
“Trong đời mạt pháp, ức ức người tu hành, ít có kẻ
nào đắc đạo,
chỉ nương theo pháp môn Niệm Phật mà thoát luân hồi”.
Kinh Đại Tập
*** |
|
PHẦN THỨ HAI
PHẬT THẤT KHAI THỊ
(đệ tử Ngô
Thông Long kính ghi)
-
KHAI THỊ LẦN THỨ NHẤT
Niệm Phật kết
thất tính đến nay đă là hai mươi ba năm rồi, những
liên hữu đă mất tính ra có đến một ngàn sáu trăm vị.
Có vị được văng sanh, có vị chẳng văng sanh. Số văng
sanh chiếm thiểu số, phần nhiều là thuộc vào thời
gian mười năm trước, mười năm sau thật là ít ỏi. Sa
sút như thế, chẳng buốt ḷng sao! Chuyện cũ lỡ rồi,
tương lai phải gắng, xin hăy bắt đầu từ hôm nay!
Niệm Phật để
được văng sanh, để được giải thoát thực sự. Kết thất
là “khắc kỳ cầu chứng”, tức là trong thời gian định
kỳ cầu đạt được chứng cứ chứng tỏ ḿnh sẽ văng sanh
- chứng cứ ấy chính là “Nhất Tâm Bất Loạn”. Nhất Tâm
Bất Loạn chính là lẽ bí mật của kinh. Kết thất chẳng
được Nhất Tâm chính là đă để lỡ dịp. Làm thế nào để
đạt được? Có nhiều nhân để thành tựu, nhưng quan
trọng nhất chỉ có hai:
- Một là người
lập đạo tràng phải phụng hành đúng với giáo pháp.
- Hai là người
tu hành phải tu đúng như pháp.
Kế đó, lại
phải chân thành. Mọi pháp thế gian c̣n phải chân tâm
thật ư th́ mới có hy vọng tựu về sau, huống hồ là
Phật pháp? V́ thế phải hết sức thành khẩn tu tập.
Nếu không th́ chẳng những vô ích mà c̣n chiêu lấy
tội lỗi.
Đả thất giống
như dựng ṭa lầu lớn cao trăm thước. Muốn xây được
th́ phải thực hiện ba giai đoạn công tác:
- Dọn sạch sẽ
cuộc đất ḿnh định xây, dẹp bỏ các chướng ngại vật.
- Bồi đất đá
lên trên ấy.
- Xây móng
thật kiên cố rồi mới có thể xây lên từng tầng.
Đả thất cũng
thế, đó chính là “kiến thiết tâm lư”, cũng có ba
tầng thi công:
- Đem hết thảy
những chuyện nhân, ngă, thị phi khắp toàn thân bỏ
xuống hết, chẳng được dùng ngàn vạn tâm t́nh niệm
Phật. Trong ṿng bảy ngày phải chú trọng buông bỏ
vạn duyên.
- Đối với
những người dự Phật thất nhưng vẫn ngủ ở nhà th́
phải gắng sao thân tuy ở nhà, nhưng tâm thường ở
chùa Linh Sơn. Trên đường đi về, niệm niệm nghĩ đến
Phật.
- Một khi đến
đạo tràng, đừng tṛ chuyện, hàn huyên,
“ít nói
một câu chuyện, niệm nhiều một câu Phật, đánh chết
mỗi ư niệm, để Pháp Thân được sống”. Chỗ này đă
là đạo tràng th́ hễ ngồi xuống liền bắt đầu niệm
Phật, chớ đừng có lên lên xuống xuống, ngồi đứng
chẳng yên, tự gây những chuyện phiền toái vặt vănh,
phương hại người khác, tạo thành tội vạ lớn.
Ba điều như
thế, hăy siêng phụng hành!
Lại nói đến
phương pháp niệm Phật th́ một câu Phật hiệu từ tâm
đề khởi, từ miệng niệm ra, nghe suốt vào tai, cần
phải phân minh. Lại c̣n phải ghi nhớ số (bất tất
dùng xâu chuỗi) từ một đến mười. Chỉ cần nghe được
rơ ràng là đă đạt công phu, tức là đă Nhất Tâm niệm
Phật đó vậy!
-
KHAI THỊ LẦN THỨ HAI
Phật thất khai
thị là nhằm làm cho hành giả giác ngộ, ắt phải tự
giác ngộ th́ sau mới có hy vọng thành công. Bởi thế
điều thứ nhất là phải giác, giác như thế nào? Giác
t́nh thế hiện tại. Ngày hôm nay chúng ta phải giác
ngộ ḿnh đang ở trong t́nh thế nào? Là giống như con
cá vậy. Có người nghe vậy liền bảo tôi biết rồi,
“cá” là giống như chữ “cá” trong bài kệ đọc lúc
chiều tối:
Thị nhật dĩ
quá, Mạng diệc
tùy giảm, Như thiểu
thủy ngư, Tư hữu hà
lạc?
Ngày hôm nay
đă qua, Mạng theo đó
cũng giảm, Khác nào cá
thiếu nước, Điều ấy có vui
chi? |
Nhưng chữ
“ngư” tôi nói ở đây không phải chỉ có nghĩa như vậy,
mà “ngư” đây là con cá đang nằm trong nồi, ở dưới để
sẵn củi. Tuy trong nồi có nước, tạm thời cá có thể
bơi qua bơi lại, tiêu dao tự tại, nhưng nguy hiểm
đến cùng cực, chỉ chờ lúc củi bén lửa th́ phận cá sẽ
ra sao? Các vị nghĩ xem! Hoàn cảnh của chúng ta đây
giống hệt như thế đó: bị ác ma giam chặt trong chảo
dầu do chúng tạo, sớm tối sẽ bén lửa. Đây chính cái
gọi là thời đại bom nguyên tử! Tuy bom nguyên tử là
do Mỹ, Nga tấn công nhau, nhưng ai dám bảo đảm Đài
Loan chẳng bị lănh họa. Dù chẳng bị nạn trực tiếp,
nhưng bị bụi bom nguyên tử nhiễm thân, chết nát ra
là chuyện tất nhiên! Chúng ta phải nên nhận biết
hoàn cảnh này, vị trí này.
Điều thứ hai
là phải sợ. Điều vừa nói trên chưa đáng sợ, điều
đáng sợ là nghiệp chưa tiêu nên phải lănh chịu chẳng
ngừng. Thử hỏi: Thế giới này là ngũ trược ác thế, v́
sao quư vị sanh vào đây? Lại v́ sao sanh nhằm thời
này? Đều do nghiệp lực khiến thành như vậy; v́ cộng
nghiệp, cộng cảm, cộng thọ vậy.
Đă như vậy th́
đừng có oán trời, trách người. Người có công phu tốt
tự có biện pháp tốt. Do cộng thọ nên không tránh
khỏi chết, nhưng chết đi sanh về những nơi khác nhau
là do công phu sai khác, tức là lúc chết chính là
lúc văng sanh. Nếu chúng ta đạt được Nhất Tâm th́
ngay hiện tại sẽ đạt được “cộng trung bất cộng” (dù
cùng cộng nghiệp mà chẳng phải cùng chịu khổ quả),
tương lai văng sanh cũng ổn đáng. Nhưng nếu nay
chúng ta chưa làm được như vậy th́ chết đi sẽ lại
hướng đến tam đồ, lục đạo! Đấy chính là điều chúng
ta phải nên kinh sợ.
Điều thứ ba là
nên tiếc. Học Phật, niệm Phật đến nay đă là hai mươi
ba năm, nhưng trong số những người cùng tu vẫn chưa
có ai nắm vững. Tiếc thay! Tiếc thay! Cơ duyên trước
mắt một phen mất đi, khó thể có lại được. Đừng nói
đời này chẳng tu đợi kiếp sau, bởi lẽ “thân người
khó được”. Ví dù được làm thân người, nhưng “Phật
pháp khó nghe”, chưa chắc đă được nghe Phật pháp. Ví
dù được nghe Phật pháp, chưa chắc được nghe pháp môn
Tịnh Độ. Ví dù được nghe pháp môn Tịnh Độ, chưa chắc
có thể kết thất như ngày hôm nay. Thử nghĩ xem: đạo
tràng của chúng ta giảng kinh như thế, khai thị như
thế, mỗi năm kết thất mà vẫn chưa thành th́ huống hồ
ǵ là kiếp sau?
Vả lại, người
ta được thành tựu hay không là do căn khí. Người đời
có thể chia thành hai loại là ngu si và thông minh.
- Kẻ ngu tuy
được khai thị, nhưng nghe rồi tâm chẳng tiến triển,
không hề giác ngộ. V́ sao đến nỗi như thế? Do ba độc
trong tâm đầy dẫy, độc phát ra ngoài nên hiện tướng
như thế. Hạng người này ngă kiến rất nặng, thường
khởi phiền năo, khó độ được! Nhưng bọn họ đời này
tạo ác hơi ít, đấy là điểm sở trường của họ.
- Hạng thông
minh đời này tạo ác tuy lớn, nhưng dễ giác ngộ, nếu
gặp được thiện tri thức uốn nắn sẽ mau biến chuyển,
dễ độ!
Thứ hai là đều
do nghiệp lực đời trước tạo thành như thế. Nghiệp
lực vô biên nên ngay trong thời Đức Phật, vẫn có kẻ
Ngài chẳng độ được. V́ thế mới nói “phước chí tâm
linh”, nghe pháp rồi tấn tu quả là kẻ có phước vậy!
Thế nhưng Phật
pháp vô biên, đối với mỗi căn khí đều có phương tiện.
Tổ sư Ngẫu Ích đă dạy cho kẻ ngu pháp “sám hối hồi
hướng”. Với hết thảy những sự nơi thân, khẩu, ư, hễ
lành th́ hồi hướng Tây Phương, hễ ác th́ sám hối
ngay lập tức. Ngay cả việc lành sám hối đó cũng đem
hồi hướng Tây Phương. Kẻ si chẳng thể phân biệt
thiện ác th́ cứ nhất loạt sám hối, nhất loạt hồi
hướng. Tâm quyết định như thế th́ niệm niệm tại Tây
Phương, lực dụng rất lớn. Cách thực hiện như sau:
1) Sau hai
khóa lễ sáng tối liền sám hối, hồi hướng.
2) Thường ngày
hễ gặp cảnh trái ngang, lăng nhục, khốn khổ liền lập
tức sám hối, hồi hướng. Bởi đấy là do túc nghiệp tạo
thành như thế cho nên phải sám hối nghiệp nặng.
3) Lúc tâm
khởi ác niệm, phiền năo bèn lập tức sám hối. Do
nghiệp lực nên phiền năo thường khởi, đừng đổ lên
người khác. Nếu không, hậu báo vô cùng vậy. Bởi lẽ,
những chuyện ngang trái v.v... là do nghiệp lực,
chịu xong liền hết. Nếu lại khởi phiền năo gieo vạ
cho người khác th́ sẽ xoay vần báo trả nhau, chính
là ḿnh tự hại ḿnh vậy!
Ba thứ sám hối
hồi hướng như thế chính là pháp môn mất nhiều năm
tôi mới cầu được, nay tặng cho quư vị. Quư vị hăy
thực hành, đừng khinh là tầm thường. Tổ Ngẫu Ích bảo
sám hối, hồi hướng lại thêm niệm Phật th́ không ai
là chẳng thành cả!
Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một câu tiêu trừ được trọng tội
trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Trong hai mươi
năm qua, quư vị không một ai niệm được như vậy. Chí
tâm là lúc niệm Phật trước hết phải dọn tâm cho thật
sạch sẽ, rỗng rỗng rang rang th́ ngay khi ấy, một
câu Phật hiệu thông trên suốt dưới, không c̣n ǵ
khác cả. Niệm chí tâm như thế th́ mới ḥng đạt được
“Nhất Tâm Bất Loạn”. Quư vị niệm Phật hăy nên theo
nguyên tắc này, nhưng làm thế nào để chí tâm? Xin
đáp: “Tội từ tâm khởi dùng tâm sám”. Do c̣n
tội nghiệp nên tâm khởi phiền năo. Lúc tâm khởi
phiền năo th́ sẽ tạo tội nghiệp. Ngay lúc ấy phải
sám hối cho nó tiêu mất. “Tâm đă diệt rồi tội
cũng không”. Do c̣n tội nghiệp nên chẳng thể chí
tâm. Tội nghiệp đă diệt sẽ tự nhiên chí tâm. Bởi thế
bảo: “Tội diệt, tâm mất thảy đều không, thế mới
gọi là chân sám hối”. Niệm Phật như thế th́ đạt
được chí tâm, diệt được trọng tội, dù bom nguyên tử
có rơi xuống cũng chẳng ngại ǵ. Kệ rằng:
Tâm nhất
phân minh đoạn hoặc th́, Văng sanh
chứng quả thượng hà nghi, Tuy nhiên
thường thuyết hoặc nan đoạn,
Sám hối
huyền môn tích bất tri.
Tâm đă phân
minh đoạn hoặc rồi, Văng sanh
chứng quả há nào sai, Tuy thường hay
bảo Hoặc khó đoạn, Sám hối huyền
môn tiếc chẳng hay. |
Nếu niệm đến
Nhất Tâm Bất Loạn th́ chính là lúc đoạn Hoặc. Như
vậy ắt được văng sanh, văng sanh rồi ắt mau chứng
Phật quả. Lư thật phân minh, c̣n nghi ngờ ǵ nữa?
Tuy nói là đoạn Hoặc rất khó, đoạn một phẩm Kiến Tư
Hoặc như cắt đứt ḍng sông chảy mạnh rộng đến bốn
mươi dặm, nhưng vẫn có pháp môn mầu nhiệm chính là
sám hối hồi hướng. Đấy chính là huyền môn. Tiếc rằng
người đời chẳng biết. Niệm Phật mà biết phối hợp với
pháp môn này th́ sẽ thành tựu dễ dàng!
Trang 13
|
|
II. KHAI THỊ TẠI PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM GIÁP
DẦN
(đệ tử Hà
Mỹ Tuyết kính ghi)
1.
KHAI THỊ LẦN THỨ NHẤT
Thưa các vị
lăo sư, các vị đồng tu,
Từ khi Linh
Sơn tự có Phật thất đến nay đă là hai mươi lăm năm,
có thể duy tŕ lâu dài liên tục, chẳng gián đoạn như
thế thật chẳng phải là chuyện dễ. Phật thất mỗi năm,
học nhân (lời cụ Lư Bỉnh Nam tự xưng) đều đến tham
gia, chẳng dám bảo là khai thị, mà chỉ là đem phương
pháp niệm Phật và yếu nghĩa của nó sách tấn, khuyên
lơn các vị mà thôi.
Trong hai mươi
lăm năm, những điều cần nói đă nói qua cả rồi. Gần
đây học nhân bận rộn lắm việc, trong thời gian tổ
chức Phật thất, chỉ có thể đến hai lần. Những điều
nói ra đều là những câu lấy trong kinh, hoặc từ ngữ
lục của chư Tổ Sư. Học nhân vô học vô đức, ngoài
những lời kinh, lời Tổ dạy th́ không c̣n ǵ để nói,
những điều muốn nói cũng phát xuất từ khuôn phép của
tiền nhân. Những điều tôi nói trong quá khứ, chưa
chắc quư vị đă nhớ hết, hoặc đă quên sạch, nên hôm
nay nhắc lại th́ cũng như mới nói.
Lần này học
nhân thay đổi phương thức, in dàn bài tặng quư vị
tham khảo. Bởi v́ xem dàn bài nghe giảng, ấn tượng
càng khắc sâu, dễ hiểu rơ trọn vẹn, nghe xong có thể
đem về nghiên cứu kỹ càng. Nếu như quư vị nhờ đó mà
đạt được cảnh giới tốt th́ cố nhiên là rất tốt. Nếu
như thấy không tiến bộ ǵ th́ xem đọc lại nhiều lần,
cốt sao đúng pháp thực hành, lâu ngày chầy tháng
nhất định sẽ được lợi ích.
Chúng ta tu
pháp môn Tịnh Độ mục đích là tương lai chứng đắc
Phật quả. Tu các pháp môn khác mà muốn chứng Phật
quả th́ phải trải qua ba đại A Tăng Kỳ kiếp; trong
trăm vạn người khó có một người thành tựu. Phật Quả
tuy tốt, nhưng ai có thể chứng được? Trong pháp môn
Tịnh Độ th́ chỉ cần tại thế giới Sa Bà này, trong
ṿng mấy mươi năm ngắn ngủi, một câu A Di Đà Phật
niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn th́ liền được văng sanh.
Sau khi văng sanh, trong một thời gian ngắn thành
địa vị bổ xứ Bồ Tát, thành Phật rất dễ. V́ vậy, pháp
môn này dễ tu, đáng gọi là “độ khắp ba căn, gồm thâu
lợi, độn”. Thượng căn được lợi mà bọn độn căn chúng
ta cũng có thể được lợi. Ai ai cũng tu được, đều có
thể thành tựu.
Hễ ai tu Tịnh
Độ đều biết những câu “vạn nhân tu vạn nhân khứ”
(vạn người tu, vạn người văng sanh), “đới
nghiệp văng sanh”, “Nhất Tâm Bất Loạn”, nhưng
mọi người đều chẳng muốn hiểu kỹ ba câu này. Tôi đă
từng giảng qua, nhưng ai nấy đều hiểu lầm ư nghĩa
của chúng, vẫn chưa thể hiểu sâu, hiểu đúng, hiểu tỉ
mỉ, cho nên chưa thể thành công được.
Mấy năm gần
đây, thấy công phu các vị thụt lùi lớn. Nhớ năm năm
đầu lúc mới mở Phật thất ở Đài Trung c̣n khá, chứ
năm năm sau đó đă kém hẳn, năm năm kế tiếp đó càng
tệ hơn nữa. Công phu đă chẳng tiến, trái lại c̣n lui
sụt. Đă thế niệm Phật đều chẳng phấn khởi tinh thần.
Đây là lời thực, học nhân đến đây chỉ mong quư vị
đạt được lợi ích chân thật. Bởi thế, chẳng thể khen
ngợi quư vị được. Tâng bốc quư vị th́ chẳng những
chẳng được văng sanh mà trái lại c̣n làm hại mọi
người. Nay đem ư nghĩa chân thật của ba câu ấy nói
ra, quư vị sẽ liền biết rơ công phu của ḿnh như thế
nào.
* Vạn tu vạn
nhân khứ
Đây chính là
lời của Tổ Sư, hoàn toàn chẳng sai lầm, dưới đây sẽ
nêu bốn điều để chân chánh giảng pháp, khiến cho quư
vị chẳng c̣n hiểu lầm ư nghĩa câu này nữa.
a.
Tu phải nhận thức rơ Chánh Trợ Song Tu
Tu tức là
chiếu theo pháp môn Tịnh Độ mà tu, phải nhận thức rơ
Chánh Trợ Song Tu. Chánh tức là công phu căn bản,
chỉ niệm sáu chữ hồng danh
“Nam mô A Di Đà Phật”.
Đây là công phu chánh, ai cũng biết niệm. Chẳng học
Phật cũng biết niệm, nhưng không hiểu nghĩa. Nay tôi
giải thích đại lược:
1) Một câu
“Nam mô A Di Đà Phật” là Pháp Giới Tạng Thân, bao
gồm cả thập phương tam thế chư Phật.
2) Một câu
“Nam mô A Di Đà Phật” bao trùm cả mười hai bộ loại
kinh điển trong Tam Tạng, tức là chữ
“A”
đă bao gồm
toàn bộ giáo pháp của Tam Tạng.
3) Sáu chữ
hồng danh là vua của các chú, sáu chữ “Nam mô A Di
Đà Phật” là chữ bí mật, chẳng phiên dịch. Cả sáu chữ
đều chẳng phải là tiếng Tàu. Pháp này cao tột, thù
thắng hơn tŕ tụng bất cứ chú ngữ nào khác.
4) Học Phật
phải tu Định. “Hoa Nghiêm đại định” chính là Di Đà
đại định. Nhất Tâm Bất Loạn chính là định, đạt được
Nhất Tâm là thành công. Đấy chính là chỗ mầu nhiệm
của pháp môn Tịnh Độ.
Hai mươi năm
trước đây, ngoại trừ những lúc có Phật thất, mỗi Chủ
Nhật, học nhân đều đến đây giảng kinh, phần lớn các
kinh đă giảng qua, nhưng học nhân thường nói: Giảng
kinh chẳng thể liễu thoát sanh tử, chỉ là để kết
duyên nhằm khiến chúng sanh hiểu rơ ư kinh, cải biến
tâm lư, thực tiễn tu hành. Dù cho có giảng kinh trăm
năm, hằng ngày giảng kinh cũng chẳng thể liễu sanh
tử. Chẳng bằng kẻ chẳng hiểu giáo lư nhưng biết niệm
sáu chữ hồng danh, niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn th́
được lợi ích rất lớn.
Niệm Phật là
công phu chánh, có thể hiển lộ bổn tánh Chân Như.
Niệm đến Nhất Tâm th́ tâm minh, tánh hiển, đấy là
thành công. Nếu chỉ đàm huyền luận diệu th́ tu bao
nhiêu năm cũng chẳng thể giải ngộ tâm tánh. Xin quư
vị nghe kỹ: Sáu chữ hồng danh “Nam mô A Di Đà Phật”
chính là bổn tánh của quư vị, bổn tánh chính là tâm
của quư vị.
Thiền Tông chê
Tịnh Tông rằng: “Ngu nhân cầu Phật bất cầu tâm,
trí nhân cầu tâm bất cầu Phật” (kẻ ngu cầu Phật
chẳng cầu tâm, người trí cầu tâm chẳng cầu Phật).
Quư vị cầu tâm hay cầu Phật? Nếu cầu Phật th́ là
người ngu v́ chẳng biết tâm quư vị chính là Phật,
Phật chính là tâm quư vị. Tâm và Phật vốn là một, v́
vô minh ngăn che nên Phật là Phật, tâm là tâm, tâm
và Phật bị chia thành hai, đều là do quư vị tạo ra.
Nay quư vị niệm Phật chính là hiển lộ bổn tánh của
ḿnh: “Mười phương tam thế Phật, cùng chung một
Pháp Thân”. Phật quá khứ có Pháp Thân, Phật vị
lai cũng có Pháp Thân. Phật vị lai chính là chúng ta.
Pháp thân của chúng ta với Pháp thân của Phật Thích
Ca, Phật Di Đà là một không phải hai. Niệm Phật là
khai hiển bản tánh, là công phu chánh. Quư vị tu
không thành công pháp môn này th́ có thể nói đoan
chắc là quư vị tu các pháp môn khác cũng không thể
thành tựu được. Nếu bỏ pháp môn này mà quư vị có thể
thành tựu được th́ tôi chính là kẻ đại vọng ngữ, sẽ
đọa địa ngục.
Tu chính là v́
tâm tánh của chúng ta bị vô minh ngăn che. Vô minh
chẳng dễ nhận biết. Nói cách khác, vô minh chính là
những hành vi giết, trộm, dâm, tham, sân, si v.v...
hằng ngày của chúng ta. Tu chính là trừ khử những vô
minh ấy, chẳng tạo nghiệp giết, trộm, dâm, chẳng
khởi tham, sân, si, khiến cho bổn tánh tỏ lộ quang
minh, đó tức là Tu.
Nhưng ai có
thể biết được đạo lư này? Ai chịu thực hành? Mọi
người vừa niệm Phật vừa nhiễm vô minh th́ làm sao
minh tâm kiến tánh cho được? V́ thế phải dùng trợ
lực để tiêu trừ giết, trộm, dâm, tham, sân, si. Trợ
tu như thế nào? Tuy chẳng hiểu rơ Phật lư, nhưng cốt
sao có thể phân biệt thiện ác, hiểu rơ hai câu sau
đây là được: Hễ là điều ǵ bại hoại th́ đừng làm, đó
chính là “chư ác mạc tác”. Nhẫn chưa được th́ cắn
chặt răng đừng làm. Làm việc lành, dù lúc ban đầu
chỉ miễn cưỡng làm. Đấy chính là “chúng thiện phụng
hành”. Hành thiện dứt ác, giữ tâm lành, nói lời hay,
làm việc tốt, đấy chính là phương pháp hỗ trợ công
phu chánh, trừ khử vô minh. V́ thế gọi là “trợ
hạnh”.
Nói rộng ra,
trợ hạnh là tu sáu Ba La Mật, nhưng khó hiểu, nên
chẳng cần phải nói đến. Phàm là điều ác th́ dù có
tặng quư vị khối kim cương nặng mười vạn bảng
(pounds), quư vị cũng chẳng chịu làm. Đối với việc
lành th́ dù phải chịu trở ngại nào cũng cứ làm. Hai
điều này chính là “tùy duyên tiêu cựu nghiệp,
cánh bất tạo tân ương” (tùy duyên tiêu nghiệp
cũ, chẳng tạo họa mới nữa). Lúc b́nh thường gặp
thiện th́ làm, gặp ác th́ bỏ. Khi niệm Phật th́
buông bỏ vạn duyên, một ác niệm vừa khởi lên th́
liền dùng ngay một câu “Nam mô A Di Đà Phật” để áp
chế nó. Thâu tóm ba nghiệp thân, khẩu, ư, theo
đó mà hành lâu ngày sẽ được thành công. V́ thế bảo
là “vạn nhân tu, vạn nhân khứ”.
b. Bất chiếu
tu bất năng khứ (chẳng tu đúng theo đó th́ chẳng
được văng sanh)
Tuy là “vạn
nhân tu, vạn nhân khứ”, nhưng nếu chẳng tu đúng th́
chẳng thể văng sanh được. Ai cũng biết có Phật, có
Ma. Ma chính là tham, sân, si, giết, trộm, dâm. Niệm
một câu A Di Đà Phật là Phật lực khởi. Khởi tham,
sân, si, giết, trộm dâm là Ma lực khởi. Ma lực và
Phật lực ngang nhau. Phật, ma đấu nhau gọi là
“đạo cao một thước, ma cao một trượng”. Phật hay
Ma đều là tâm của quư vị. Niệm Phật vẫn tạo nghiệp,
khởi tham, sân, si, Phật và Ma hỗn tạp, tâm sao
thanh tịnh được, sao sanh Tịnh Độ được? Sao có thể
minh tâm kiến tánh cho được? Đă niệm Phật lại c̣n
niệm Ma th́ chẳng phải là tu vậy. Nếu chẳng mau sửa
đổi cơi ḷng, chẳng trừ khử tham, sân, si, th́ dù có
niệm đến tám vạn bốn ngàn đại kiếp cũng chẳng được
văng sanh. Đây là lời chân thật. V́ thế quư vị phải
mau thay đổi tâm ḿnh.
c. Thiểu
tu công bất thành tựu (công tu ít th́ chẳng thành
tựu)
Ngay
lúc này đây, quư vị chẳng khởi tham, sân, si, không
giết, trộm, dâm v.v... rất tốt, nhưng một khi bước
ra khỏi cửa này, xong Phật thất là quên ngay. Ở đây
niệm Phật dăm ba ngày là chuyện hay, tiếc là quá ít.
Kinh Di Đà dạy: “Chẳng thể dùng chút thiện căn,
phước đức nhân duyên mà được sanh về cơi ấy”.
Thiện căn tức là công phu chánh, phước đức chính là
trợ duyên. Tu ít th́ chẳng thể thành tựu, v́ vậy cần
phải tu nhiều.
d. Đa tu thị
thường bất đoạn (tu nhiều là thường tu chẳng gián
đoạn)
“Tu nhiều” là
tu thường, luôn luôn tu chẳng gián đoạn. “Thường” là
vĩnh viễn như thế, “bất đoạn” là thời thời, khắc
khắc nghĩ đến chẳng gián đoạn. Xong Phật thất rồi,
tâm vẫn chẳng biến đổi, chẳng khởi những tâm giết,
trộm, dâm, tham, sân, si, hại người... Dù là nông,
công, thương, công chức, bác sĩ ai nấy cứ giữ nghề
ḿnh, chẳng trở ngại chi đến tâm quư vị cả. Ngoài xă
hội, học nhân suốt ngày làm việc, trong hai mươi lăm
năm, lo liệu đạo tràng tuy bị nhạo báng cũng chẳng
tranh biện với ai. Đây chính là hành Nhẫn Độ trong
Lục Độ. Người ta mắng chửi cũng chẳng sanh ḷng
giận. Huống nữa, lửa vô minh nổi dậy, rừng công đức
sẽ cháy tiêu. Xin nghĩ xem: Sân tâm nổi lên, người
khác chẳng suy xuyển ǵ, trái lại ḿnh lại bị hại.
V́ thế, học nhẫn nhục chính là để đạt đại tiện nghi
vậy.
Tổ sư nói:
“Tu đạo chẳng ngại lo liệu công việc, cốt sao chẳng
tổn người th́ làm nghề ǵ cũng được”, đều là v́
tu hành nhưng phải lo kiếm sống, nương vào Tục để tu
Chân. Nếu không như thế th́ công phu chẳng thành,
chẳng thể văng sanh. Thân người khó được, nay đă
được thân người, nay quư vị tu hành chính là cơ hội
để liễu sanh tử. Nếu không liễu sanh tử th́ tu hành
ích chi?
“Bất đoạn” tức
là trong từng thời, khắc chẳng quên. Ta chưa đạt
được “tịnh niệm liên tục” nói trong chương
Đại Thế
Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông, nhưng cứ tiếp tục
tu chẳng gián đoạn. Tâm chẳng đoạn th́ sẽ làm được
chuyện ấy. Niệm chẳng phải là miệng niệm xuông mà
phải chú tâm vào đó, tức là tâm đặt nơi Tây Phương,
tâm hướng về Phật. Phải có ư niệm bất đoạn như thế
mới được. Hết thảy hành động đều v́ sanh về Tây mà
làm, không ǵ là không làm như thế. Cho nên ăn cơm,
mặc áo là để sanh về Tây, mưu sanh nuôi thân là để
sanh về Tây, đều v́ tu hành, biến cải tâm lư mới
nên. Như học nhân làm việc công, dạy học, lại v́
những học sinh sáng dạ tuyên dương Phật pháp. V́ thế
học nhân nhận tiền công, chẳng nhận tiền của thương
thiên hại lư, nên chẳng trở ngại ǵ đến việc tu
hành.
“Thường” là
bất biến, sống trăm năm cũng chẳng thay đổi. “Bất
đoạn” là thời thời, khắc khắc nghĩ đến ǵ th́ chú
tâm vào đó. Tâm đặt nơi Phật th́ tâm chính là Phật.
Nếu tâm chẳng đặt nơi Phật th́ tâm liền biến thành
Ma, thành bại hoại vậy.
Hôm nay, học
nhân đến đây bàn về pháp môn Tịnh Độ là nói chuyện
ǵ? Nói chuyện Chánh Trợ Song Tu. Quư vị niệm Phật
chính là Chánh Công Phu. Học nhân đến giảng là giúp
quư vị hiểu đạo, đó là Trợ Công Phu. V́ thế, với bất
cứ việc ǵ tâm cũng đặt tại Chánh Trợ Song Tu là
được.
Từ trên đến
đây toàn là nói về câu “vạn nhân tu vạn nhân khứ,
bất tu bất năng khứ”. Những câu khác ngày mai sẽ
bàn.
Này quư vị!
Buông
xuống vạn duyên, đề khởi chánh niệm.
Một câu
Di Đà, thẳng đường mà niệm.
2.
KHAI THỊ LẦN THỨ HAI
Thưa các vị
lăo sư, các vị đồng tu,
Hôm nay là đă
là ngày thứ sáu của Phật thất. Xin mọi người tinh
tấn, rạng ngày nghe giảng giải, chiều tối càng dụng
công khẩn mật.
Phật thất là
để cầu Nhất Tâm. Theo đúng lệ, khi giảng khai thị
th́ chẳng giảng kinh, chẳng thuyết pháp, chỉ xem
trong đạo tràng có điều ǵ tu hành chẳng đúng pháp
th́ đối trị căn bệnh đó, ứng cơ mà nói, chứ nếu
không th́ thành ra làm rối thêm.
Lần này đặc
biệt cải biến phương thức đă dùng nhiều năm, in dàn
bài giảng giải, chứ lần sau chẳng làm vậy. “Vạn nhân
tu vạn nhân khứ”, “đới nghiệp văng sanh”, “Nhất Tâm
Bất Loạn” là ba điều mọi người dễ hiểu lầm nhất.
Trong quá khứ, đối với những điều này, tôi chỉ lược
giảng dăm ba câu. Người chân chánh dụng công để cầu
Nhất Tâm phải nên hiểu rơ một cách xác thực. Đài
Trung học Phật đă hai mươi lăm năm, bây giờ lười
nhác, đúng là:
Đầu nhất
niên, Phật tại tiền,
Đệ nhị
niên, Phật tại Tây Thiên,
Đệ tam
niên, Phật hóa vi vân yên.
Năm đầu,
Phật hiện diện trước mặt,
Năm kế, Phật
ở Tây Thiên,
Năm thứ ba,
Phật hóa thành mây, khói.
|
Kinh Phật
cũng nói Bồ Tát mới phát tâm khác nào bậc Đẳng Giác,
tiếc thay vài năm liền lui sụt. V́ thế, người phát
tâm tu th́ nhiều, kẻ thành tựu lại ít. Phải đâu Phật
pháp không linh, mà là v́ mọi người chẳng tin, chẳng
thể kiên tŕ triệt để. Cứ hễ kiên tŕ mà tu th́ đối
với bất cứ một câu Phật pháp nào cũng đều thành tựu
được hết, chẳng cần phải đọc Tam Tạng. Do chúng sanh
vô lượng, tâm tư vô lượng, nên mới có Tam Tạng kinh
điển, để đối ứng căn cơ của chúng sanh mà nói.
Ngày hôm qua
đă nói về câu đầu tiên là “vạn nhân tu, vạn nhân
khứ”. Hôm nay nói về câu thứ hai “đới nghiệp
văng sanh”. Phàm ai tu Tịnh Độ cũng biết nói câu
này.
Tu các pháp
môn khác, cần phải đoạn Kiến Tư Hoặc mới có thể liễu
sanh tử, xuất tam giới; nhưng đa số chẳng biết Kiến
Tư Hoặc là cái ǵ. Bởi thế, người thành công khá
hiếm. Lại c̣n có lối nói “nghiệp tận t́nh không”.
“T́nh không” chính là t́nh thức hoàn toàn biến thành
trí huệ, thấu rơ bổn tánh. Mức độ “nghiệp tận t́nh
không” thấp nhất là chứng quả A La Hán, hiện tại có
mấy ai làm được?
* Đới
nghiệp văng sanh
Câu “đới
nghiệp văng sanh” là chỉ người tu Tịnh Độ mà nói;
đối với các pháp môn khác nếu đới nghiệp th́ tuyệt
đối chẳng thể giải thoát, chẳng thể liễu sanh tử.
Nhưng đa phần người tu Tịnh Độ hiểu lầm là dù c̣n
tạo tội nghiệp vẫn có thể văng sanh, vẫn có thể
thành tựu. Do nói như vậy nên trong mười người tu,
tám chín người chẳng thành công được.
Trong hai mươi lăm năm tại Đài Trung, có hơn hai
ngàn vị đồng tu đă qua đời, nhưng lúc mất có lưu lại
tướng văng sanh để chứng nghiệm th́ chẳng nhiều hơn
mười người. Sao lại đáng buồn đến thế ấy?
Ư nghĩa chân
thực của việc “đới nghiệp văng sanh” là như sau:
a. Nghiệp
là túc nghiệp thiện ác
Nghiệp là
những tội nghiệp đă tạo. Phải biết là ai cũng do
thân, khẩu, tạo mười ác nghiệp, nhưng chẳng phải là
gây tạo trong đời này, mà là từ trong bao kiếp lâu
xa luân hồi trong lục đạo đă tạo vô lượng, vô biên
tội nghiệp. Kinh nói: “Nếu tội nghiệp có h́nh thể
sẽ sớm chật cả hư không”. Tạo tội th́ phải đền
trả trong lục đạo. Tội cũ chưa xong, đă gây nghiệp
mới, làm sao giải thoát được? V́ thế trong ngàn vạn
người, không một ai được giải thoát.
Hoặc bảo:
“Niệm Phật một tiếng tiêu trọng tội trong tám mươi
ức kiếp sanh tử”. Ai ai cũng nghĩ là niệm Phật
tiêu tội. Điều này không sai, nhưng “Đạo cao một
thước, Ma cao một trượng”. Sức Ma lớn là v́ ma
sự nhiều. Chúng sanh từ bao kiếp lâu xa đến nay toàn
làm ma sự, bây giờ chỉ niệm Phật dăm ba năm th́ làm
sao tiêu được? “Ma cao” là ma nghiệp nhiều. Niệm
Phật tiêu nghiệp là như lửa nung chảy băng. Ví như
khối băng to như cái bàn, đốt ngọn lửa nhỏ như đầu
nén hương th́ lửa ít, băng nhiều, làm sao tan băng
được? V́ thế người tu hành mới thấy sức ma lớn lao,
Phật lực không linh; bởi thế lắm kẻ thoái chuyển.
Nhưng nếu chẳng tu hành th́ một phân đạo cũng không
có. Chúng ta có được một phân, một tấc đạo là đă
chẳng uổng rồi!
b. Đoạn
Hoặc giải thoát theo cách thông thường
Ngoại trừ
Phật pháp không có biện pháp nào khác để thoát khỏi
luân hồi. Các tôn giáo khác đều cho rằng Thượng Đế
là chí cao vô thượng, nhưng Thượng Đế vẫn c̣n ở
trong luân hồi lục đạo. Mục tiêu của nhà Phật là
thoát luân hồi. Làm thế nào để thoát? Phải “nghiệp
tận t́nh không”, nghiệp trong nhiều kiếp lẫn nghiệp
hiện tại phải nhất loạt tiêu sạch. Đời này không
tiêu hết th́ gắng tiêu trong ngàn kiếp, vạn kiếp.
Thành bậc A La Hán c̣n phải sanh tử trong nhân gian
hay cơi trời bảy lần mới đoạn hết Kiến Tư Hoặc, liễu
sanh tử, nhưng vẫn c̣n Trần Sa Hoặc chưa đoạn. Đủ
thấy đoạn Kiến Tư Hoặc khó khăn. Ví như có vạn phẩm
Hoặc, dù đoạn được chín ngàn chín trăm chín mươi
chín phẩm, vẫn c̣n một phẩm chưa đoạn th́ cũng chưa
giải thoát. Học nhân học Phật hơn năm mươi năm, một
phẩm c̣n chưa đoạn được, biết làm sao đây?
c. Đới
nghiệp là chế phục nghiệp hoặc chẳng cho chúng khởi
dậy
Học nhân tu
hành, giảng kinh năm mươi năm, gặp được vài vị minh
sư, đối với học lư cũng biết được một hai phần,
nhưng một phẩm Hoặc cũng chưa đoạn được. Quư vị tu
hành chưa lâu, Hoặc là thứ ǵ c̣n chưa biết rành th́
đoạn Hoặc sao được? Khác nào mài đao chẳng biết đao
như thế nào th́ mài sao được?
Chúng ta chưa
đoạn được Hoặc th́ chẳng thể giải thoát. V́ thế đức
Thích Ca Mâu Ni đại từ, đại bi nói ra pháp môn Tịnh
Độ, dạy chúng sanh niệm A Di Đà Phật, chẳng cần phải
đoạn Hoặc, chỉ cần chế ngự được Hoặc liền có thể
giải thoát.
Đoạn Hoặc và
Phục Hoặc (chế ngự Hoặc) khác nhau như thế nào? Đoạn
Hoặc giống như trong chén đă thanh tịnh, vô nhiễm,
dù có nghiêng đi cũng chẳng đổ cát bụi ra. Phục Hoặc
giống như trong chén có cát bụi, dùng vật khác đậy
lên, có nghiêng chén cũng chẳng đổ bụi ra, nhưng cát
bụi vẫn c̣n chứa bên trong. Nghiệp tận chẳng bị luân
hồi, tu Tịnh phục Hoặc th́ cũng chẳng lọt trong lục
đạo.
Nhưng Hoặc
vẫn c̣n th́ phải làm sao? Luôn luôn dùng sáu chữ
hồng danh đè nén chúng, lâu ngày thuần thục, đến lúc
mạng chung, nếu khởi tâm niệm Phật th́ các tạp niệm
bị chế phục chẳng khởi lên nên có thể mang theo
nghiệp đi văng sanh (đới nghiệp văng sanh). Sanh qua
cơi kia rồi mới đoạn Hoặc, chỉ mấy ngày là thành
công. Đấy là Phục Hoặc.
d.
Phục Hoặc th́ tâm và Phật
giao cảm với nhau
Chỉ cần chế
phục Hoặc sẽ chẳng tạo nghiệp nữa, nên sẽ cảm ứng
đạo giao cùng Phật. Đấy chính là ư nghĩa chân thực
của “đới nghiệp văng sanh”, tuyệt đối chẳng phải là
vừa niệm Phật, vừa tạo tội vẫn được văng sanh!
* NHẤT TÂM BẤT
LOẠN
Đây là điều
dùng để chứng minh công phu, nay tôi sẽ giải thích
sơ lược.
1. Đắc Nhất
Tâm th́ quyết định thành tựu
Đắc Nhất Tâm
nhất định thành tựu, v́ chính là đắc đại định.
2. Nhất định
phải theo thứ tự tiến tu
Nhất định
chẳng thể vừa tu liền thành ngay, phải tấn tu từng
bước một, như châu gieo xuống nước, lần lượt ch́m
dần.
3.
Muốn thành công th́ phải tu tập dần dần mới
thành tựu trọn vẹn được
Muốn thành
công th́ phải tu dần dần th́ mới có thể viên dung.
Hằng ngày ở nhà phải luyện Nhất Tâm th́ đến đây mới
ḥng luyện được Nhất Tâm. Nếu không th́ dù có nhập
thất hơn ba trăm ngày tâm vẫn loạn, dự một kỳ Phật
thất ngắn ngủi này làm sao đạt được Nhất Tâm? Đấy
chẳng phải là cầu may, may ra được Nhất Tâm hay sao?
Hăy nên tự hỏi ḿnh, đừng hỏi ai khác.
4. Thành tựu
Nhất Tâm chính là ác niệm chẳng khởi
Nếu đắc Nhất
Tâm th́ giết, trộm, dâm, tham, sân, si chẳng khởi.
Nên biết rằng ác khởi chính là ma. Tâm chúng ta dù
khởi ác, nhưng nếu chế phục chúng chẳng cho phát tác
th́ liền có thể thành công.
Kệ rằng:
“Nhất niệm
độc tâm sanh”:
“Độc” chính là ác niệm. Khởi ác niệm th́ làm việc
hại người.
Nếu độc tâm
vừa sanh th́ hăy “gấp dùng một câu Phật hiệu”
đàn áp, mau mau dùng “Nam mô A Di Đà Phật” để trấn
áp. Đấy chính là “phục hoặc”.
“Ác ngôn
bất xuất khẩu”:
Lời hại người, bốn nghiệp miệng chẳng để xảy ra.
“Tổn nhân
sự mạc tác”
(việc hại người đừng làm): phàm là những việc tổn
hại người hoàn toàn chẳng làm, cắn chặt răng, bất
luận là tự ḿnh phải chịu khổ sở, thiếu hụt đến đâu,
giữ ḿnh chẳng tạo ác. Chẳng tạo chính là “phục”.
“Cửu cửu
tự thành nhiên”
(lâu ngày ắt sẽ thành tự nhiên): Làm như vậy chẳng
khó lắm ư? Lúc ban đầu tuy khó, nhưng lâu dần quen
đi sẽ thành tự nhiên.
“Văng sanh
khả đới nghiệp”:
Do chế ngự được Hoặc, lại có thể niệm Phật nên liền
có thể mang nghiệp đi văng sanh.
“Thị danh
phục hoặc pháp, chân thật bí mật quyết”
(Đây gọi là yếu quyết chân thật bí mật của pháp chế
phục hoặc): Đây chính là yếu quyết chân thật, bí
mật. Nếu có thể thực hành theo đó th́ nhất định được
văng sanh.
Này quư vị!
Hăy buông
xuống vạn duyên, đề khởi chánh niệm.
Một câu Di
Đà, thẳng thừng mà niệm.
|
* Bài kệ của
Tuyết Sư lăo nhân:
Nhất niệm
tâm sanh độc,
Cấp áp
nhất Phật thanh,
Ác ngôn
bất xuất khẩu,
Tổn nhân
sự mạc tác,
Cửu cửu tự
thành nhiên,
Văng sanh
khả đới nghiệp,
Thị danh
phục hoặc pháp,
Chân thật
bí mật quyết
|
Tạm dịch:
Một niệm độc
tâm khởi,
Phật hiệu đè
gấp ngay,
Lời ác trọn
chẳng thốt,
Việc tổn
người chớ làm,
Lâu ngày trở
thành thói,
Được đới
nghiệp văng sanh,
Đây bí quyết
chân thật,
Bí mật để
phục hoặc.
|
Trang 14
|
|
III.
KHAI THỊ TRONG DỊP KẾT THẤT NIỆM PHẬT ĐẦU XUÂN GIÁP
NGỌ
(đệ tử Du
Nhược Thu kính ghi)
Tại gia kết
thất niệm Phật chính là cách tiện lợi nhất trong các
phương tiện Phật thất niệm Phật. Nhưng muốn niệm
Phật được lợi ích lớn th́ lại cần phải hiểu rơ đạo
lư. Nếu chẳng hiểu rơ đạo ư th́ dù có được lợi ích
cũng chẳng lớn lao ǵ. Bởi lẽ, đối với hai nghiệp
thân khẩu th́ miệng niệm Phật, thân ngồi trong đạo
tràng, ít ra cũng chẳng tạo nghiệp; nhưng v́ tâm
chẳng dễ nắm bắt nên vẫn khó tránh khỏi tạo nghiệp.
Do v́ tâm là
Lư. Lư chẳng rơ th́ chính là phàm phu mê hoặc điên
đảo. Phải hiểu Lư ấy như thế nào? Phàm học Phật th́
bất luận là mười năm hay một trăm năm cũng chẳng
ngoài hai chữ “phước, huệ”. Kinh dạy: “Chẳng thể
dùng chút thiện căn, phước đức nhân duyên để được
sanh về cơi ấy”. Kẻ mới học Phật quá nửa chú
trọng tu Phước, người tu lâu hay chú trọng tu Huệ.
Kỳ thật, Phước Huệ là một khối, chẳng thể tách thành
hai điều riêng rẽ. Nay tôi giải thích lư này, chứ
chẳng dám nói là Khai Thị, lại xin quư vị nghe kỹ;
nghe xong rồi nghiên cứu kỹ càng.
Chư vị đồng
tu nghĩ xem niệm Phật là để làm ǵ? Chẳng ngoài hiện
tại tiêu trừ tai nạn, tương lai được văng sanh Tây
Phương. Tiêu tai khỏi nạn chính là tu Phước. Văng
sanh Tây Phương chính là tu Huệ. Nếu hiện tại chẳng
thể tiêu tai, khỏi nạn th́ là chưa có phước. Hiện
tại đă chẳng thể tiêu tai khỏi nạn th́ tương lai rất
khó bảo đảm được văng sanh. Chẳng thể văng sanh Tây
Phương chính là không có Huệ, là v́ chưa đắc Nhất
Tâm. Lẽ này quá b́nh thường, cũng rất dễ hiểu rơ.
Chư vị đồng
tu nghĩ xem phải làm sao để hiện tại tiêu tai khỏi
nạn? Nói chung, xét ra là chẳng thể làm được là v́
quá khứ đă tạo nghiệp, ắt phải chịu báo, muốn khỏi
thọ báo th́ đừng tạo nghiệp. Nghiệp quá khứ đă tạo
vô phương cứu văn, chỉ c̣n cách từ nay trở đi phải
thay đổi tấm ḷng, đem tâm biến thành “A Di Đà Phật”,
nghĩ tưởng thanh tịnh, chẳng tạo nghiệp nữa.
Trong số quư
vị đây, ắt có người nghĩ ḿnh niệm Phật đă lâu nhưng
sao chẳng đắc lực. Đấy là v́ thời gian ta niệm Phật
hiện tại rất ngắn, mà nghiệp đă tạo từ vô thỉ đến
nay lại rất nhiều. Trong kinh dạy: “Nếu ác nghiệp
có h́nh tướng th́ trọn cơi hư không cũng chẳng thể
chứa hết nổi”. Ví như một gian nhà lớn bốc cháy
đùng đùng, toan cầm một chén nước tạt vào mong dập
tắt lửa th́ đấy là chuyện bất khả. Chỉ có cả xe nước
lớn của xe chữa lửa, lại liên tục phun thêm nước
vào, khiến cho lửa chẳng lan rộng thêm th́ mới có
thể dập được lửa.
Lửa đó ví như
vô minh, phiền năo, nước như cam lồ Phật pháp. Nước
diệt được lửa là ví cho Phật pháp có khả năng đối
trị phiền năo. Nhưng muốn diệt được phiền năo nhiều
đời, nhiều kiếp th́ chỉ có nhất tâm niệm Phật mới
đắc lực. Kinh dạy: “Chí thành niệm Phật một tiếng
diệt được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”.
Quư vị đồng tu phải nghiến răng quyết từ nay trở đi
đừng làm các điều ác, giống như chẳng đến bên đống
lửa lớn bỏ thêm các chất đốt như củi, than, dầu hỏa
v.v... Lại càng thêm khẩn mật dụng công niệm Phật,
giống như đem từng xe, từng xe nước đến dập lửa.
Nhưng dập tắt lửa chẳng cần phải dập hoàn toàn, chỉ
cần dập tắt chừng bảy phần, ba phần lửa sót lại do
v́ có hơi nước hiện diện cũng dần dần giảm yếu. Cuối
cùng rồi cũng tắt hết. Quư vị đồng tu cứ làm theo
đúng như thế th́ chẳng lâu sau, tự ḿnh cũng có thể
niệm Phật đến chỗ đắc lực được.
Bây giờ, tôi
giảng v́ sao Phước và Huệ là một khối chặt chẽ? Bổn
tánh vốn thanh tịnh, quang minh, nhưng do vô minh
che lấp nên quang minh chẳng xuất hiện được, khác
nào tấm gương bị bụi lấp nên chẳng soi tỏ được. Hiện
tại tu Phước giống như dùng khăn lau chùi gương. Chỉ
cần bụi rớt đi th́ ánh sáng sẽ tỏa ra. V́ thế, tu
Phước chính là tu Huệ. Các tông khác minh tâm kiến
tánh, chứng quả A La Hán rồi mới có thể liễu sanh
thoát tử. Niệm Phật th́ niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn
bèn thoát khỏi tam đồ lục đạo.
Hôm nay, tôi
toàn giảng về Niệm Phật, toàn là những chuyện b́nh
thường, rất dễ thực hành, c̣n việc đàm huyền luận
diệu th́ hăy tạm chẳng nói đến bởi các vị đồng tu
khi nghe giảng kinh đă từng nghe qua rồi. Hiện tại,
tôi chuyên giảng phương pháp dụng công tu tập. Phật
pháp có mười tông phái lớn, nhưng chỉ có pháp Niệm
Phật của Tịnh Độ Tông là hữu dụng. Pháp Niệm Phật
của các tông khác chưa rốt ráo nên vẫn chưa hữu
dụng. Như có ba cách cứu hỏa, chẳng dùng nước cũng
có thể diệt được lửa. Nếu lúc cứu hỏa không có nước
th́ có thể dùng một cái móc lớn kéo sập cả căn nhà.
Nóc đổ, tường đổ cũng diệt được lửa. Điều này ví như
các tông khác chẳng nhờ vào Phật lực cũng có thể
liễu sanh tử. C̣n cách chữa lửa của Tịnh Độ tông là
trước hết khiến cho thế lửa chẳng mạnh thêm, rồi mới
đem từng xe nước dập lửa. Đây chính là ngoài Tự Lực
c̣n có thêm Phật lực. Trong các pháp môn, pháp môn
Nhị Lực này đặc biệt nhất.
Pháp môn này
đă trọng yếu như thế th́ phải niệm cách nào? Có hai
phương pháp niệm Phật: một là niệm Phật, hai là nhớ
Phật (ức Phật).
Niệm là niệm
ở đâu th́ chú tâm tại đó, tức là khi niệm Phật th́
tâm đặt nơi Phật, tâm chính là Phật. Chẳng hạn lúc
chúng ta niệm Phật hai thời sáng tối th́ niệm do tâm
khởi, tiếng từ miệng thoát ra lại lọt vào tai, tâm
nhớ lấy. Ba nghiệp thân, khẩu, ư cùng hợp lại niệm.
Kinh dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”.
Lúc niệm cốt
cho tinh chứ không cầu nhiều. Tổ sư nói: “Chỉ cần
niệm được 108 câu chẳng loạn. Nếu có một câu niệm
sai lạc liền lần chuỗi niệm lại từ đầu”. Niệm
được 108 câu Phật hiệu từng câu phân minh, nhớ rơ
chẳng lầm lạc mới tốt. So với niệm cả ngàn câu, vạn
câu mà tâm tán loạn th́ lợi ích (của việc niệm Phật
chẳng tán loạn) phải lớn hơn. Quư vị đồng tu đừng
coi thường 108 câu đó. Nếu quả thực quư vị có thể
niệm được 100, 200 câu chẳng loạn th́ công phu đă
chẳng uổng phí rồi. Chỉ e chẳng có mấy người niệm
được đến cả ngàn câu mà chẳng loạn. Đây là lời chân
thật!
Khi niệm
Phật phải buông xuống vạn duyên, chẳng luận
là niệm bốn chữ, sáu chữ, đều phải đặt chắc toàn tâm
toàn ư vào câu Phật hiệu.
Giả sử bốn bề cháy to, vẫn cứ niệm Phật như thế
chẳng gián đoạn, chẳng loạn. Niệm Phật phải có sức
mạnh như thế, tâm luôn thường hằng như thế th́ mới
thành tựu được.
Nhưng người
tại gia khác với hàng xuất gia. Từ sáng đến tối đều
phải làm lụng, bởi đối với người xuất gia th́ củi,
gạo, dầu, muối... đều chẳng quản đến; nhưng người
tại gia có các nghề nghiệp: sĩ, nông, công thương,
nghiệp để mưu cầu sự sống. V́ thế, người tụng niệm
một ngày ba thời, năm thời không nhiều. Người một
ngày có thể niệm Phật đến 3 tiếng đồng hồ chẳng hiếm
lắm, nhưng hai mươi mốt giờ kia đều tán loạn, tạo
nghiệp. Đại đa số khóa sáng niệm nhiều, khóa tối
niệm ít, hoặc khóa sáng niệm ít, khóa tối niệm nhiều.
Công phu niệm Phật như vậy khác ǵ nửa chén nước,
làm sao cứu hỏa được. Nhưng đức Phật có pháp phương
tiện, đó là “ức Phật”.
Ức là nhớ rơ
chẳng quên. Đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn cơm đều
chẳng hề quên. Dẫu cho vào chỗ nhà xí dơ bẩn nhất,
trong tâm vẫn phải có Phật, nhớ cho thật rơ ràng,
rành rẽ. Quư vị nghĩ xem có việc ǵ mà khiến ḿnh
dính vào th́ đều quên tuốt mọi thứ không? Đó là việc
ǵ vậy? Chính là “ăn”. Chim v́ tham ăn mà bị bắt
nhốt vào lồng, cũi. Cá do ham mồi nên mắc câu. Có
thể nói là hết thảy chúng sanh đang sống bị chết đi
đều là v́ cái ăn. Chúng ta mỗi ngày làm lụng cực
nhọc phi thường, chịu đựng mọi thứ nhục nhằn, oan
uổng, khổ sở, gian nan cũng đều là v́ cái ăn. Có lúc
bụng ḿnh chẳng đói nhưng đến bữa cứ ăn. Nếu niệm
Phật cũng giống như ăn vậy th́ tự nhiên sẽ thành
công.
Trang 15
|
|
IV.
KHAI THỊ TẠI PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM MẬU NGỌ
(đệ tử Ngô
Thông Mẫn kính ghi)
Hôm nay là
ngày kết thất thứ nhất. Việc đầu tiên là phải hiểu ư
nghĩa của việc kết thất chính là “khắc kỳ cầu chứng”.
Tu pháp môn Niệm Phật của Tịnh Độ th́ phải đạt Nhất
Tâm Bất Loạn mới có thành tựu. Kết thất niệm Phật
bảy ngày, nếu khéo công phu th́ niệm một ngày liền
đắc Nhất Tâm. Muốn được vậy phải tu nhiều năm, phải
là người hiểu giáo lư mới có thể làm được. Thứ đến
là hai, ba, bốn, năm, sáu ngày chẳng nhất định. Tiếp
đó là phải niệm đến ngày thứ bảy mới chứng Nhất Tâm.
Đấy là nói về những người thanh tịnh cả bảy ngày,
ngày đêm niệm Phật không ngừng, trong bảy ngày liền
đoạn được Kiến Tư Hoặc. Chỉ có người đoạn được Kiến
Tư Hoặc mới là người thực sự đắc Nhất Tâm.
Nhưng đoạn
được Kiến Tư Hoặc rất khó, v́ thế có một phương pháp
đặc biệt: trước hết chỉ cầu chế ngự được Hoặc mà
thôi. Nghĩa là lúc Hoặc khởi dậy th́ liền dùng Phật
hiệu chế phục nó. Công phu luyện đến thuần thục th́
hễ Hoặc khởi liền chế ngự được. Được vậy th́ cũng
gần giống như đắc Nhất Tâm, cũng có thể đới nghiệp
văng sanh.
Các tông tu
hành chẳng ngoài việc “chánh trợ song tu”. Chánh
công phu là trừ khử vọng niệm, thấu triệt tâm tánh;
trợ công phu là công phu giúp hiển lộ tâm tánh, trừ
khử những ma chướng phát sanh bởi dụng công. Nay tôi
theo thứ tự nói sơ lược những pháp tu Chánh và Trợ
của Tịnh Độ.
Trước hết nói
về Chánh Công Phu. Trong ṿng bảy ngày, lúc nào cũng
phải giữ ḷng cung kính. Một phen bước vào cửa chùa
th́ cũng như vào gặp Phật. Pháp thân của Như Lai ở
khắp mọi nơi, chẳng phải chỉ ḿnh tượng Phật trên
đại điện mới xem là Phật, mà thật ra một sắc, một
hương không thứ nào chẳng phải là diệu sắc, diệu tâm
của Phật. Đối với mỗi hoàn cảnh, nơi chốn như thế
đều xem như là Phật th́ ngôn hạnh tự nhiên cung kính,
chẳng c̣n lười nhác nữa. Cung kính chính là bí quyết
để hướng đến Bồ Đề. Đây là tầng công phu thứ nhất.
Khi đă ngồi
yên rồi th́ phải buông xuống vạn duyên, quét sạch
mọi vọng niệm tạp sự thường ngày. Sau đấy mới gom
tâm về một chỗ, buộc tâm nơi câu hồng danh. Giống
như nơi ḍng nước chảy xiết phải buộc chặt thuyền bè
vào cột th́ mới khỏi bị nước cuốn. Đây là tầng công
phu thứ hai.
Kế đó, trong
khi tŕ danh, phải giữ sao cho sáu chữ hồng danh từ
tâm tưởng khởi, từ miệng phát ra, nghe lọt vào tai,
ví như ba cái bánh xe xoay vần qua lại, cốt sao tâm
tưởng thật trong sáng, rơ ràng, miệng niệm được rơ
ràng, tách bạch, tai nghe rơ ràng, rành mạch. Tự
niệm, tự nghe như thế, từng chữ dựa chặt vào nhau,
trong khi niệm đừng đánh mất một câu nào. Đây là
tầng công phu thứ ba.
Thêm nữa, lúc
chúng ta niệm Phật, chẳng luận là miệng tụng hay ư
tŕ, hăy nên giữ cho không có tạp âm, chỉ c̣n mỗi
ḿnh tiếng niệm Phật. Do A Di Đà Pháp Thân ở khắp
mọi nơi, Phật quang cũng chiếu thấu khắp nơi. V́ thế
lúc niệm Phật, từ nơi ta phát ra tâm thanh (âm thanh
phát xuất từ tâm), tâm thanh ḥa nhập vào Phật
quang, Phật quang lại nhập vào tâm thanh. Tâm thanh
và Phật quang dung thông như thế th́ ta chính là Di
Đà, Di Đà chính là ta. Đây là tầng công phu thứ tư.
Theo đúng
những điều vừa nói ở trên, tinh tấn tu tập từng
tầng, khiến cho chỗ chín biến thành chỗ sống, chỗ
sống chuyển thành chỗ chín. Đến khi đạt đến tầng thứ
tư th́ chính là ngày thành tựu Nhất Tâm vậy.
Tiếp đến nói
về Trợ Công Phu. Chánh Công Phu cố nhiên là thẳng
chóng, ổn thỏa, thích đáng, nhưng chúng sanh từ vô
thỉ kiếp đến nay quen thói phiền năo đă sâu, vọng
niệm tơi bời; nay muốn dùng một câu Phật hiệu đè nén
chúng cho khỏi tạo nghiệp, không c̣n vọng tưởng, th́
tuyệt đối chẳng thể thực hiện được điều đó trong một
thời gian ngắn. V́ thế, phải dùng Trợ Hạnh để giúp
sức.
Nếu có thể
hằng ngày tự cảnh tỉnh, quan sát lỗi ác của chính
ḿnh, thành tâm sám hối, mong tiêu nghiệp chướng,
thấy người khác làm lành liền tùy hỷ, tán thán để
tăng phước đức; tùy hỷ, sám hối như thế đều hồi
hướng văng sanh Tây Phương th́ đấy chính là Trợ Hạnh
thứ nhất.
Tiếp đến là
pháp Hân Yểm (ưa thích và nhàm chán). Trong các sanh
hoạt thường nhật, chẳng luận là ăn, mặc, đi, đứng,
đối với mọi thứ trong cơi Sa Bà đều nhất loạt coi là
ô uế mà chán ĺa. Đối với các thứ trang nghiêm được
diễn tả trong ba kinh Tịnh Độ đều tưởng là thanh
tịnh, sanh ḷng ưa thích. Chán ĺa th́ không tâm
tham luyến. Vui mừng, hâm mộ th́ tự tăng thêm ư
nguyện cầu sanh. Đến khi hân yểm cùng cực th́ thân
tuy ngụ Sa Bà, nhưng chẳng c̣n là khách trọ lâu ngày
trong cơi Sa Bà nữa; tuy chưa chứng Cực Lạc, nhưng
đă sớm là người thường trú chốn Liên Bang. Đây chính
là yếu quyết mầu nhiệm của Tịnh Tông, chẳng thể nói
là giống như những lời lẽ “bất hân bất yểm” của các
tông khác. Đây chính là Trợ Hạnh thứ hai.
Thêm nữa, về
pháp phương tiện để chế ngự Hoặc, nên biết rằng niệm
Phật chẳng được Nhất Tâm là do vọng niệm làm loạn.
Nhưng vọng niệm chính là Hoặc, mà cũng chính là Ma.
Kinh Niết Bàn dạy: “Tu Đà Hoàn đoạn Kiến Hoặc như
cắt đứt ḍng sông chảy mạnh rộng bốn mươi dặm”.
V́ thế muốn đoạn ngay được Hoặc thật chẳng dễ dàng.
Nay có cách tạm cầu chế ngự được Hoặc. Cổ đức bảo:
“Bất phạ niệm khởi, đản khủng giác tŕ”
(chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm). Nếu cứ hễ ư
niệm khởi liền có thể nhận biết, biết rồi liền dùng
Phật hiệu chế ngự nó. Ma đến, Phật chế ngự như thế,
ví như dùng đá đè cỏ. Đè lâu ngày, Hoặc chẳng thể tự
khởi, cũng được “phương tiện Nhất Tâm”, đợi đến khi
sanh về Tây Phương rồi sẽ lại đoạn Hoặc. Đây chính
là pháp đặc biệt của Tịnh Độ, chẳng thể dùng lư lẽ
của các tông khác để cật vấn được. Đây chính là Trợ
Hạnh thứ ba.
Hy vọng mọi
người bảy ngày sau đây, vô luận là đang ở trong đạo
tràng hoặc đang trên đường về nhà đều tu như thế.
Tiếp theo đây tôi dùng một bài kệ để kết luận:
Tịnh Độ
nan tín khước dị hành,
Toàn do
nhị lực chánh trợ công
Tất đắc
Nhất Tâm phương hữu hiệu,
Phương tiện phục hoặc tức cảm thông
(Tịnh
Độ khó tin nhưng dễ hành,
Toàn do hai lực, chánh và trợ,
Phải đắc Nhất Tâm mới hữu hiệu,
Phương tiện chế Hoặc liền cảm thông) |
Sau cùng xin mọi người
buông xuống vạn duyên,
thẳng thét mà niệm một câu A Di Đà Phật!
Trang 16
|
|
V.
KHAI THỊ PHẬT THẤT TẠI CHÙA LINH SƠN NĂM MẬU NGỌ (lần
thứ nhất)
(Tư
Thục Điền Kế Nghiêm kính ghi, đệ tử Ngô Bích Hà
giảo chánh)
Thưa chư
vị lăo sư, chư vị đồng tu,
Hôm nay
là ngày kết thất thứ nhất. Riêng tại Đài Trung,
sau khi quang phục
(1),
bắt đầu kết thất tại chùa Linh Sơn, tính đến nay
kết thất cũng gần được ba mươi năm rồi. Nói đến
việc mở Phật thất suốt ba mươi năm chưa hề gián
đoạn th́ thật là điều rất khó có được, hoàn toàn
là do nhân duyên. Hôm nay tôi xem thấy những bạn
đồng tu trong đạo tràng này, đồng tu cũ cũng có,
đồng tu mới cũng có, giảng nói càng khó hơn,
biết làm sao đây? Nếu giảng sâu th́ bạn đồng tu
mới nghe sẽ chẳng hiểu. Nói sơ lược ư? Lại sợ
bạn cựu tu đă nghe qua nhiều lần rồi. V́ thế,
tôi chọn lấy những điều trọng yếu mà tŕnh bày.
Trước hết
luận về kết thất. Kết thất chú trọng nơi thực
hành niệm Phật, hoàn toàn chẳng phải là để giảng
kinh, giảng giáo lư. Trước hết, phải hiểu rơ như
thế! Đă là để nghiên cứu thực tu th́ nói càng ít
càng tốt, nên tôi bèn chuyên giảng “làm thế nào
để đạt được Nhất Tâm”. Ngoại trừ điều này ra,
chỉ nói in ít, nói nhiều càng thêm phiền. Gây
phiền thêm để làm ǵ? Mọi người đến đây để cầu
Nhất Tâm, nghe tôi thuyết pháp nhiều th́ tâm
càng loạn. Xin quư vị hiểu cho điều này.
Trước hết,
dùng mấy lời như vậy để minh định rơ ràng. Hôm
nay là ngày đầu tiên, trước hết, cần phải tu
hành đúng như pháp. Tu hành pháp môn nào cũng
phải có biện pháp của pháp môn đó, phải dựa vào
những biện pháp do Phật, Tổ đă dạy chúng ta. Nếu
như tự ḿnh suy diễn những cách tu không dựa vào
Phật pháp, hoặc dùng những phương pháp tu của
các pháp môn khác để tu th́ là sai lầm vậy. Mỗi
một pháp môn có cách tu riêng của nó.
“Trở
về nguồn không hai đường”,
thế nào là không hai đường? Nói chung là để minh
tâm kiến tánh, pháp nào chẳng thể minh tâm kiến
tánh th́ chẳng tu. Do có nhiều môn phương tiện
nên phương pháp cũng chẳng đồng nhất. Chẳng hạn
như trong nhà Phật có rất nhiều tông phái, nhưng
trong hai phái tối trọng yếu th́ một là Thiền.
Thiền chú trọng vào Không, thường quán Không, hễ
ngộ được một chữ Không th́ rất tốt. Nhưng Tịnh
Độ tông chẳng giống vậy. Tịnh Độ Tông chú trọng
quán Hữu. Có phải là hai tông này mâu thuẫn nhau
không? Kỳ thật chẳng hề mâu thuẫn nhau dù chỉ
một điểm. Điều này có giáo lư đấy, nhưng hôm nay
tôi chẳng giảng giáo lư, chỉ giảng những ǵ quư
vị có thể dựa theo đó mà tu cho tốt. Nếu muốn
hiểu kỹ về mặt giáo lư th́ chúng tôi có giảng
kinh tại thư viện hoặc liên xă, chứ chẳng phải
chỉ giảng kinh ở một chỗ, quư vị có thể đến đó
nghe.
Ở đây tôi
chỉ chuyên giảng sao cho quư vị đạt được Nhất
Tâm, để bảy ngày kết thất này của quư vị không
bị uổng phí. Trong kỳ kết thất này, nếu chẳng
đắc Nhất Tâm th́ uổng công rồi. Quư vị phải biết
là trước tiên phải nhớ kỹ những lời giảng trong
ngày thứ nhất, mấy ngày sau đó quư vị nghe người
khai thị nói ǵ cứ thực hành theo đó là ổn.
Ở đây
chúng ta tu Tịnh Độ, kết thất niệm Phật bảy
ngày. Niệm Phật bảy ngày để làm ǵ? Người khéo
công phu niệm một ngày liền đạt Nhất Tâm. Chẳng
phải là người hằng ngày luôn niệm Phật th́ hôm
nay đến đây niệm Phật một ngày không cách chi
đắc Nhất Tâm được! Phải là người đă tu hành ít
nhiều năm, hiểu rơ giáo lư rồi, chỉ v́ một ḿnh
người ấy tu tŕ chẳng thể đắc Nhất Tâm, đến đây
tham dự Phật thất mới có thể đắc Nhất Tâm. Nếu
công phu chưa khéo th́ từ một ngày đến bảy ngày
chi đó bèn đắc Nhất Tâm. Đây là nói về hạng
người nào? Là hạng người tinh tấn suốt bảy ngày,
chứ chẳng giống như bọn ḿnh, mỗi ngày niệm vài
cây hương là thôi. Họ niệm ngày đêm không nghỉ
nên bảy ngày liền đắc Nhất Tâm.
Nói cho
quư vị nghe điều thật tuyệt diệu này: Đạt Nhất
Tâm chính là đă đoạn được Kiến Tư Hoặc trong
ṿng bảy ngày. Điều này trong kinh không giảng
rơ v́ sợ quư vị tự tổn hại ḿnh. Đoạn hết Kiến
Tư Hoặc th́ đạt được Nhất Tâm, chẳng đoạn được
Kiến Tư Hoặc th́ không thể đắc Nhất Tâm. Là v́
nếu Hoặc chưa đoạn th́ chúng vẫn c̣n khuấy loạn
trong tâm, quư vị đạt Nhất Tâm sao được? Bởi vậy
mới bảo: Nếu công phu chẳng tận sức th́ dù có
niệm cả trăm năm cũng chẳng được Nhất Tâm! Nếu
thế th́ biết làm cách nào đây?
Tịnh Độ
tông có một phương pháp đặc biệt là chế phục
Hoặc. “Chế phục Hoặc” nghĩa là mỗi khi vọng niệm
khởi lên, bèn dùng A Di Đà Phật đè nén vọng niệm,
hễ vọng niệm khởi bèn dùng niệm Phật đối trị.
Cách này rất đơn giản, chỉ cần niệm thuần thục
là làm được. Nhưng trong cả ngàn người, khó kiếm
được một người niệm thuần thục. Đại đa số, hễ
một vọng niệm khởi th́ vọng niệm khác liền tiếp
nối, rong ruổi theo vọng niệm, chẳng biết đè nén
vọng niệm, dùng A Di Đà Phật để đè nén chúng.
Đây là một công phu đơn giản nhưng lắm người
chưa làm được là v́ duyên cớ nào? Là v́ nhiều
đời, nhiều kiếp đến nay, họ nghĩ đến vọng niệm
quá thuần thục rồi nên tuyệt đối chẳng thể dùng
“A Di Đà Phật” để đàn áp vọng niệm được, có nói
cũng chẳng nghe. Nếu như vậy th́ chẳng c̣n biện
pháp nào cả. Quư vị phải hiểu rơ điều này.
Trên đây,
tôi thưa chuyện cùng quư vị mấy câu như vậy là
nhằm tŕnh bày những việc quư vị cần phải hiểu
rơ trước khi đả thất, chứ chưa khuyên quư vị
phải nên thực hành cách nào; giờ đây tôi sẽ
thưa. Sau này quư vị sẽ thấy những lời ấy cũng
rất b́nh thường. Quư vị đừng phân biệt là b́nh
thường hay không, cả sáu chữ “nam mô A Di Đà
Phật” kể ra rất b́nh thường, nhưng sao nhiều
đời, nhiều kiếp vẫn không niệm được?
Chúng ta
tu hành thực tiễn, chẳng cần biết là tu theo
tông nào, nói chung tông nào cũng đều có hai
phương diện:
- Một là
“chánh công phu”. Thế nào là Chánh Công Phu?
Thực hành Chánh Công Phu chẳng ngoài mục đích để
Tu Hành. Khai trừ, khử sạch những Kiến Tư Hoặc,
những thứ loạn tạp rối bời trong tâm quư vị th́
gọi là Tu Hành. Chúng sanh ai nấy đều có Phật
Tánh. Bổn tánh của quư vị chính là Phật Tánh,
nhưng đáng tiếc là tánh ấy bị các thứ bại hoại
che đậy. Biện pháp để trừ khử hết sạch những thứ
bại hoại ấy th́ gọi là “Chánh Công Phu”.
- Ta hiểu
được những ǵ bại hoại cần phải đào thải khỏi
tâm này là một chuyện, nhưng trừ bịnh đâu phải
là chuyện dễ, v́ thế cần phải có công phu hỗ trợ
(Trợ Công Phu). Mỗi một tông có công phu hỗ trợ
riêng. Hôm nay tôi sẽ v́ quư vị phân biệt rơ
phải thực hiện Chánh Công Phu và Trợ Công Phu
như thế nào.
Quư vị
đến dự Phật thất là v́ muốn đạt Nhất Tâm. Đoạn
Hoặc là Nhất Tâm, chế ngự được Hoặc cũng là Nhất
Tâm. Đạt được Nhất Tâm th́ lúc lâm chung mới có
thể văng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, không
được Nhất Tâm th́ không văng sanh. Đấy chính là
điều kinh A Di Đà đă dạy. Lấy lời kinh dạy làm
chuẩn. Lắm người cứ mơ hồ cho rằng lúc ḿnh lâm
chung, A Di Đà liền đến đón ḿnh. Thật ra th́
phải Nhất Tâm mới được Phật đón tiếp. A, v́ sao
vậy? Do tâm ḿnh phát lộ quang minh, quang minh
của Phật A Di Đà liền dơi theo đó, tiếp dẫn ḿnh
sanh về cơi kia. Nếu Kiến Tư Hoặc, các thứ bại
hoại phủ lấy quư vị, che lấp quư vị th́ Phật A
Di Đà cũng không có biện pháp ǵ. Quư vị phải
hiểu rơ điều này.
Mỗi khi
chúng ta bước chân vào cửa chùa Linh Sơn th́
liền thấy Phật. Phật có Pháp Thân, Pháp Thân
chẳng phải chỉ hiện diện nơi tượng Phật đúc, mà
chỗ nào cũng có Pháp Thân hết, chỉ tiếc là bọn
phàm phu chúng ta chẳng thấy được. Bây giờ mỗi
khi ḿnh đến chùa Linh Sơn, thấy tượng Phật phải
coi như là Phật, coi như là Phật đang ở ngay
trước mắt. Tôi xin hỏi quư vị một câu: Quư vị
gặp Tổng Thống th́ thái độ ra sao? Tổng Thống
đến đây th́ chẳng dám nói lời nào, ngồi ngay
ngắn, chỉnh tề, lưu tâm cẩn thận, hết sức quy
củ. Tổng Thống cũng chỉ là phàm phu giống hệt
ḿnh. Gặp ông ta th́ ai nấy đều có thái độ như
thế đó, nhưng gặp Phật lại chẳng được như vậy,
dù thấy Phật cũng xem như Phật chẳng hiện diện,
sao mà lầm loạn đến thế? Quư vị ơi, quư vị làm
như vậy là khinh thường Phật quá đấy. Đừng nói
chi đến Tổng Thống, cục trưởng cảnh sát đi tới,
quư vị có sợ hay chăng? Coi Phật không bằng viên
cảnh sát trưởng như thế th́ quư vị
(có tu hành) thành công được chăng? Tổ Sư dạy như thế này:
Điều đầu tiên là phải cung kính. Mỗi khi đến
đây, phải coi như Phật đang ở ngay trước mắt,
nói năng, động tác hết thảy đều cung kính, muôn
phần cung kính. Nếu như trong tâm c̣n một phần
lười nhác, một phần chẳng cung kính th́ chẳng
chứng được Nhất Tâm. Đây là bước thứ nhất.
Đă cung
kính rồi, mỗi khi ngồi xuống niệm Phật hay lúc
chẳng niệm cũng đều như nhau, tiến lên nữa là
buông vạn duyên xuống. Thế nào là vạn duyên?
Chính là vọng tưởng khởi lên thời thời, khắc
khắc chẳng đoạn. Mỗi một vọng tưởng là một hạt
giống của một lần luân hồi, một lần sanh tử,
nguy hiểm lớn lắm. Vọng tưởng là ǵ? Mỗi một
vọng tưởng là một Kiến Tư Hoặc, là vật bại hoại,
là bụi bậm. Khởi vọng tưởng là tâm chạy theo bên
ngoài. Chạy theo những pháp nào bên ngoài? Nghĩ
cái bàn, nghĩ cái ghế, nghĩ đến cái ǵ tâm liền
đặt nơi đó, tâm quư vị hoàn toàn chẳng đặt yên
nơi A Di Đà Phật. Đây là chứng bệnh lớn gọi là
Loạn. Nếu tâm quư vị chạy lung tung th́ chẳng
phải là loạn hay sao? Làm thế nào đây? Trong tâm
chỉ có Phật, đem tâm đặt yên nơi Phật. Phật
giống như một cái cọc thuyền trên sông, tâm là
chiếc thuyền. Cột chặt thuyền vào cọc th́ c̣n
trôi đâu được nữa! Miệng không niệm Phật nhưng
trong tâm có Phật, giữ ḷng cung kính th́ Phật
hiện diện ngay trong chúng ta. Chẳng dám loạn
tưởng th́ dù miệng không niệm cũng được Nhất
Tâm. Đây là tầng thứ hai.
Điều thứ
ba là lúc niệm Phật, niệm sáu chữ hay bốn chữ,
dù sáu chữ hay bốn chữ đều cùng một cách niệm.
Trước hết trong tâm phải tưởng. Nếu trong tâm
chẳng niệm, chỉ gào xuông ngoài miệng th́ đấy
chỉ là xướng ca, không nên! Đồng thời trong tâm
chẳng khởi hai ư niệm, hễ nghĩ đến Phật th́
không c̣n có ư niệm nào khác. Có ư niệm khác th́
ư niệm về Phật cũng không c̣n. Điều này bọn
chúng ta phàm phu thiếu công phu chưa thấy rơ.
Niệm Phật trong tâm tưởng, trong tâm rơ ràng,
trong trẻo. Miệng lại niệm ra, công phu niệm ra
cũng rơ ràng, tách bạch. Sau đó, chính ḿnh nghe,
nghe chính tiếng ḿnh niệm, nghe sáu chữ ấy cũng
rơ ràng, minh bạch, chẳng để sót chữ nào. Tâm
tưởng, miệng niệm ra, tai lại lắng nghe vào,
giáp ṿng như vậy th́ tâm không chạy đi đâu được.
Đó là một cách.
Niệm đến
mức nào? Quư vị khỏi cần phải hỏi ai là ḿnh
niệm đến mức nào cả. Quư vị như thế nào người
khác làm sao hiểu được. Quư vị đă không hiểu
ḿnh như thế nào th́ người khác làm sao hiểu
được? Tôi chỉ cho quư vị hiểu nhé! Quư vị niệm
Phật cứ tự ḿnh nghe, nghe chính ḿnh niệm Phật,
chính miệng ḿnh niệm Phật, chính ḿnh tự nghe.
Bất cứ thứ nào khác đều chẳng nghe thấy th́ công
phu của quư vị đă thuần, tự ḿnh niệm Phật, tự
niệm, tự nghe. Điều này khó làm được. V́ sao? Ở
nhà th́ không hề ǵ, ḿnh ở trong nhà ḿnh, ḿnh
niệm như vậy được, nhưng đến đây dự Phật thất,
mọi người đều niệm Phật, làm sao ḿnh không nghe
thấy được? Không nghe thấy là tốt, nhưng nếu
nghe thấy th́ làm cách nào? Nghe thấy cũng tốt.
V́ sao nghe thấy cũng tốt? Trong Tịnh Tông có
Trợ Niệm Đoàn để hỗ trợ lúc lâm chung. V́ sao
gọi là Trợ Niệm Đoàn? Vong giả lúc lâm chung bị
hôn trầm, phong đao chia cắt thân, trong tâm rối
loạn. Vừa loạn vừa hôn trầm th́ Phật chẳng hiện
hữu. Người trợ niệm ở bên cạnh niệm “A Di Đà
Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật” để lay tỉnh
tâm niệm người đó v́ sợ người sắp chết quên
khuấy chẳng đề khởi tâm niệm Phật. Người chết
nghe th́ cũng giống như chính ḿnh niệm, chính
ḿnh tự niệm, tự nghe. Quư vị nghe người khác
niệm cũng như chính ḿnh đang niệm. Quư vị đến
đây niệm Phật là tự ḿnh nghe, người khác niệm
Phật giúp cho quư vị, sợ quư vị quên đi. Quư vị
có thể nghỉ niệm một chút, nghe người khác niệm
rơ ràng, tách bạch, trong tâm vẫn có Phật, không
chạy đi đâu hết. Đây là bước công phu thứ ba.
Điều thứ
tư, tự tu rất trọng yếu. Quư vị niệm Phật có tạo
thành tiếng hay không? Mọi người có hiểu rơ điều
này chăng? Có tiếng đấy. Niệm Phật dù nhỏ cách
mấy vẫn có âm thanh. Dù miệng không niệm, chỉ
niệm trong tâm vẫn có âm thanh. Quư vị cứ nghĩ
lại lúc ḿnh học bài sẽ hiểu điều này. Gọi là
“tâm huyền” (dây đàn tâm) là ngụ ư: tâm giống
hệt như dây đàn, tâm cũng có âm thanh. Quư vị
tưởng A Di Đà Phật th́ ngay ư niệm ấy phát ra âm
thanh. Quư vị có âm thanh, âm thanh ấy chẳng tạp
loạn th́ chính là A Di Đà Phật.
Pháp Thân
của Phật A Di Đà không chỗ nào chẳng hiện diện.
Phật hiện diện ở đâu nơi đó đều có quang minh:
“Quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ Tát
chúng diệc vô biên” (trong quang minh hóa
hiện vô số ức đức Phật, và cũng hóa ra vô biên
các vị Bồ Tát). Trong quang minh của Phật, Phật
A Di Đà và các vị Bồ Tát hiện diện trong đó lại
đều là quang minh. Âm thanh của quư vị phát ra
đó sẽ đi về đâu? Đi đến quang minh của Phật.
Quang minh của Phật lại đi đến đâu? Ḥa nhập vào
âm thanh của quư vị. Khi âm thanh ḥa lẫn vào
quang minh, quư vị chính là A Di Đà Phật. Khi
quang minh ḥa nhập vào âm thanh th́ A Di Đà
Phật chính là quư vị. Khi âm thanh và quang minh
ḥa hợp nhau, nếu quư vị không văng sanh th́ sẽ
chạy đi đâu nữa đây? Đây là điều thứ tư. Có vậy
mới kể là đă đạt công phu. Đấy chính là biện
pháp tu hành Chánh Công Phu vậy.
Lại c̣n
có công phu để hỗ trợ. Sức của công phu hỗ trợ
rất lớn. V́ sao vậy? Thưa cùng quư vị, giờ đây
quư vị thực hành theo biện pháp tôi vừa nêu đến
mức (chánh công phu) rất khá rồi, một khi quư vị
bước chân ra khỏi cổng chùa, liền nghĩ: “Ái chà!
Bây giờ ḿnh có thể nói sướng miệng đây!” Hỏng
rồi! Ngay lúc tâm khởi ư niệm buông lung khẩu
nghiệp th́ tâm quư vị liền chạy theo bên ngoài.
Mới gom tâm để đạt được Nhất Tâm, vừa bước ra
ngoài liền để tâm chạy theo bên ngoài th́ công
niệm Phật tại đây (chùa Linh Sơn) đành mất
trắng. Ra ngoài thấy, nghe sự ǵ đó tâm lại loạn
th́ uổng mất công niệm Phật tại đây. Ở trong
này, đàn áp được Kiến Tư Hoặc, nhưng vừa ra
ngoài là lại chồng chất thêm, quư vị nghĩ nên
trách ai?
Công phu
tu hành xét đến cùng cực th́ chính là ngày chầy
tháng rộng, thời thời khắc khắc chẳng biến đổi.
Chẳng những chỉ ở chùa Linh Sơn mới tu như vậy
mà khi ra khỏi cổng chùa cho đến khi về đến nhà
vĩnh viễn tu hành như vậy th́ mới là tu hành,
chứ chẳng phải ngoài dịp Phật thất th́ chẳng tu
hành. Nếu như chùa Linh Sơn không mở Phật thất,
quư vị không tu th́ chính là quư vị tự hại ḿnh,
chẳng cần biết là có mở Phật thất hay không vẫn
thực hành như vậy. Vậy th́ xét ra biện pháp này
có khó thực hiện hay chăng?
Nếu chẳng
giữ vững được một câu Phật hiệu th́ phải luôn
sám hối. Điều này rất khẩn yếu. Sám hối là tự
xét những điều ḿnh làm chẳng đúng, tạo bao tội
lỗi. Xét ra dù xuất gia hay tại gia, người tu
hành chắc thật th́ thấy ḿnh làm ǵ cũng đều là
tội lỗi. Hễ nhắc đến tội liền sám hối. Ḿnh đă
làm sai, nhưng làm sai rồi lại làm ǵ nữa? Đă
làm sai nhưng vẫn c̣n tái phạm. Mỗi ngày thời
thời, khắc khắc từ sáng đến tối sám hối. Như vậy
th́ ngoài việc sám hối ra c̣n có ǵ làm loạn
ḿnh nữa ư? Dù có loạn ở chỗ nào đi nữa, vẫn chú
tâm nơi Phật, th́ c̣n có ǵ nữa đâu?
Thấy
người khác làm điều tốt bèn sanh ḷng hoan hỷ.
Thật ra, phát tâm hoan hỷ cũng là loạn, chẳng
thể văng sanh; cho nên hễ thấy ai làm điều lành
ǵ bèn nghĩ: “Tốt quá! Người ấy có thể văng sanh”.
Ai làm điều ǵ tốt ḿnh cũng mừng rằng người ấy
sẽ được văng sanh. Vừa sám hối, vừa tùy hỷ như
thế th́ ngày chầy tháng đọng, dù loạn nhưng thật
sự chẳng loạn. Đây chính là công phu hỗ trợ thứ
nhất.
Hơn nữa,
mỗi tông có cách tu hành riêng. Dùng cách tu
hành của tông khác để tu Tịnh Độ sẽ chẳng thành
công. Dùng cách tu của Tịnh Tông để tu các tông
khác cũng chẳng thể thành công. Tịnh Độ Tông có
hai chữ “hân, yểm”. Hân là thấy sự t́nh ǵ ḿnh
bèn hy vọng được như vậy. Nói theo ngôn ngữ hiện
tại th́ Hân là “tâm hy vọng”. Yểm là nhàm ĺa,
chán ghét. Hai chữ Hân - Yểm được coi là căn
bệnh lớn trong nhà Thiền. Quư vị tu Tịnh Độ nghe
các tông khác giảng giáo lư, họ sẽ nói hai chữ
Hân - Yểm là bại hoại, chẳng nên giữ lấy; nhưng
trong nhà Tịnh, hai chữ xấu xa ấy đối với chúng
ta lại là điều cực hảo v́ cách sử dụng hoàn toàn
khác nhau. Bí quyết huyền diệu của Tịnh Tông nằm
ngay tại hai chữ đó!
Đối với
hết thảy mọi sự trong thế giới này, quư vị đều
nên chẳng tham luyến v́ chúng đều là giả cả,
chẳng có chút ǵ chân thật. Thế giới Sa Bà là
thế giới ô uế, giống như hầm phân, như cái giỏ
bẩn thỉu, có ǵ tốt đâu! Chúng ta thấy cái giỏ
bẩn thỉu bèn chẳng chịu chạm vào những thứ dơ
dáy. Họa may là ruồi nhặng, gịi tửa thấy cái
giỏ bẩn thỉu ấy mới cao hứng được thôi. Chúng nó
thấy là tốt v́ cùng là một phường, ta đừng bắt
chước chúng. Thế giới Sa Bà đây không có một
điểm nào tốt cả nên ḿnh chán ngán chốn này,
chẳng mong ở măi nơi đây, mong sớm được xa ĺa
nó. Ḷng luôn nghĩ như vậy th́ tham luyến c̣n
trụ vào đâu được nữa.
Đă thế,
xem kinh Di Đà mấy lượt, mọi sự nói trong đó
không điều ǵ là không tốt; bởi thế nên bèn ưa
thích cơi kia. Đây là Hân. Quư vị nh́n ra ngoài
thấy cao ốc lố nhố, đi đâu phải ngồi xe hơi, so
với thế giới Cực Lạc khác nhiều lắm, ta chẳng
ưa. Đây là Yểm.
Chán nhàm
cơi này, lại nghĩ trong cơi kia chẳng dùng đến
xe, cứ ngồi trong nhà nghĩ muốn đến đâu th́ nhà
liền bay đến đó mang ḿnh theo. Nếu không thích
nhà cửa che tầm mắt ḿnh th́ tường vách cũng
không c̣n nữa. Mỗi một đóa sen ánh sáng thiên
biến vạn hóa, chưa hề được thấy qua.
Quư vị
thấy phủ Tổng Thống cơi này như thế nào? Là Kim
Loan điện. Nói cho quư vị nghe, may là cơi Cực
Lạc không có đại tiểu tiện. Nếu có đại tiểu
tiện, hầm phân th́ có hơn ǵ Kim Loan điện cơi
này. A! Quư vị luôn nghĩ như sau: nhàm chán cơi
này, ưa thích cơi kia. Hân - Yểm rất khẩn yếu,
là biện pháp hỗ trợ rất lớn. Ba mươi bảy Đạo
Phẩm vốn là Trợ Công Phu khẩn yếu của Tịnh tông,
nhưng có ai trong chúng ta nhớ hoài được. Cứ
luôn nhớ kỹ hai chữ Hân - Yểm này là được. Đây
là Trợ Công Phu thứ hai.
Điều thứ
ba, chỉ cần tâm quư vị khởi một vọng tưởng th́
đó chính là Ma. Quư vị hay nói người nào đó bị
ma dựa, nhưng có thấy con ma đó chưa? Thật ra,
ai cũng có ma theo bén gót. Ma trong tâm chẳng
lo, lại toan dẹp Ma bên ngoài! Vậy th́ Ma là ǵ?
Vọng niệm khởi chính là Ma, đó là Nội Ma. Vọng
niệm khởi lên th́ dù quư vị có đi qua Tây Phương
Cực Lạc thế giới nó vẫn dùng móc lôi tuốt quư vị
đi theo, quư vị không làm ǵ được. Sức lực của
ma thật là lớn vậy. Làm sao bây giờ?
Dù thế
nào đi nữa, sức Ma lớn đến đâu vẫn chẳng thể lớn
hơn sức Phật. Một câu A Di Đà Phật chiếu đến Ma,
Ma liền bỏ chạy, Phật hiệu áp chế được Ma. Vọng
tưởng là Ma, niệm một câu Phật hiệu là Phật,
dùng Phật hiệu để áp chế Ma. Khi vọng tưởng khởi
động là nghĩ tới Ma th́ nó đến, ta trị không
được, chỉ có ḿnh Phật hiệu thắng được nó, quư
vị liền gấp rút niệm Phật. Niệm thuần thục rồi
th́ dù ḿnh có muốn gọi Ma tới, nó cũng chẳng
tới v́ khắp trong tâm toàn là Phật. Có Phật th́
không có Ma. Có Ma th́ không có Phật. V́ thế,
đây là cách chế ngự Hoặc chứ không đoạn Hoặc,
không trừ gốc của Hoặc. Văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới rồi th́ tự nhiên đoạn sạch Hoặc.
Chẳng cần
phải nói nhiều nữa, ba điều trên là đủ. Trong
bảy ngày này, kính xin quư vị thực hành đúng
theo những điều ấy, về đến nhà cũng vẫn tu như
vậy th́ kỳ Phật thất này chẳng uổng phí. Tiếp
đây, tôi dùng một bài kệ để kết thúc:
a.
“Tịnh Độ nan tín khước dị hành”
(Tịnh Độ khó tin, nhưng dễ hành):
Chỉ mỗi
ḿnh Đức Phật là có thể giảng minh bạch Tịnh Độ
Tông, ngoại trừ Đức Phật không c̣n một ai khác
có thể giảng minh bạch được. V́ thế, Tịnh Độ
“nan tín”. Học Phật nhiều năm, kinh sách mười
phần coi hết chín, vẫn chẳng tin nổi Tịnh Tông.
V́ thế bảo là pháp Nan Tín. Nhưng đối với ai tu
được pháp này th́ nó rất đơn giản. Những lời tôi
nói đây đều là lời của Tổ Sư, của Phật giảng,
chứ chẳng phải là lời tôi giảng. Tôi chỉ là cái
máy cassette phát lại cho quư vị nghe mà thôi.
Pháp tu dễ dàng nhưng phải có rèn luyện lâu dài,
chứ chẳng phải là vừa tu là thành tựu được ngay,
vừa tu là chứng ngay. Đó là câu kệ thứ nhất.
b.
“Toàn do nhị lực chánh trợ công”
(hoàn toàn do hai lực và Chánh Công Phu, Trợ
Công Phu):
Nhị lực
tức là công phu của chính ḿnh (tự lực). Ḿnh
không dụng công không xong. Ngoài ra c̣n có Phật
lực, Phật đến tiếp dẫn ḿnh. Quư vị xem, phần
nhiều tượng Phật A Di Đà là tượng đứng, là dạng
tiếp dẫn. Thật ra, vị Phật nào cũng đều có Tịnh
Độ riêng, nhưng các Đức Phật khác chẳng đến tiếp
dẫn ḿnh. Chỉ ḿnh Đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn
ta. Quư vị không biết đường cũng chẳng sao, A Di
Đà Phật cầm hoa sen đến đón quư vị, cứ ngự lên
hoa sen, cứ ngự lên hoa sen! Ngài đưa quư vị đi!
Nếu sanh về cơi khác sẽ chẳng có phương tiện này
đâu, quư vị phải tự nhận biết đường.
c.
“Tất đắc Nhất Tâm phương hữu hiệu”
(phải đạt được Nhất Tâm th́ mới hữu hiệu):
Quư vị
phải niệm đến Nhất Tâm mới hữu hiệu. Niệm không
Nhất Tâm th́ vô dụng. Điều này ai nấy hăy nghe
cho rơ. Thế nào là Nhất Tâm? Đoạn Hoặc là Nhất
Tâm thuần túy. Chế ngự Hoặc cũng là Nhất Tâm,
cũng được văng sanh.
d.
“Phương tiện phục Hoặc tức cảm thông”
(dùng phương tiện chế ngự Hoặc liền cảm thông):
Đoạn Hoặc
chẳng dễ. Thành A La Hán là pháp Tiểu Thừa, đoạn
sạch Kiến Hoặc rồi c̣n phải sanh vào nhân gian
hay cơi trời bảy lần, tu tập cả vạn năm mới
thành tựu, mới đoạn sạch Tư Hoặc. Quư vị niệm A
Di Đà Phật bảy ngày thành công, thật là thuận
tiện quá. Quư vị chẳng dùng công phu trên đây
không thể đoạn Hoặc, làm thế nào đây? Th́ lại có
pháp phương tiện là chế phục Hoặc. C̣n đối với
các tông khác th́ sao? Trong các tông khác, chế
phục Hoặc là điều hoàn toàn vô dụng. Tu các tông
khác th́ dù có chế phục Hoặc vẫn c̣n trong luân
hồi, hoàn toàn vô dụng. Chế phục Hoặc chỉ hữu
dụng đối với Tịnh Độ Tông, trong các tông khác
chẳng thể áp dụng cách này được.
Do chế
phục Hoặc, quư vị được sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới th́ sẽ đoạn Hoặc ở nơi đó, tự nhiên
A Di Đà Phật sẽ giúp quư vị đoạn Hoặc. Cốt sao
cảm ứng th́ quang minh dung thông lẫn nhau mới
có thể thành công.
Nói tóm
lại, đến ngày thứ tư tôi sẽ giảng nữa. Nay giảng
đôi điều về công phu, mọi người nên nhớ kỹ. Hôm
nay là ngày đầu, từ đây đến suốt bảy ngày sau
quư vị cứ thực hành theo đó, tận dụng thời gian
này khẩn thiết niệm Phật. Xin lăo sư sắp sẵn
kiền chùy
(2),
ai nấy buông xuống vạn duyên, cứ một câu A Di Đà
mà niệm măi.
Trang 17
|
|
VI. KHAI THỊ PHẬT THẤT TẠI CHÙA LINH SƠN NĂM MẬU
NGỌ (lần thứ hai)
(Tư Thục
Điền Kế Nghiêm kính ghi, đệ tử Ngô Bích Hà giảo đính)
Tạp niệm
giai thị b́nh tố tội,
Nhược bất
tạo nghiệp niệm bất sanh,
Tùng kim
thiết mạc tái tạo nghiệp
Nhất Tâm
Bất Loạn tự nhiên thành
Tạp niệm là
tội ngày thường
Nghiệp như
chẳng tạo, niệm đường nào sanh,
Từ nay chẳng
tạo nghiệp trần
Nhất Tâm Bất
Loạn quả thành tự nhiên |
Phật thất đă
đến ngày thứ năm, tôi đă nói chỉ cần chiếu theo
phương pháp đă giảng trong ngày thứ nhất mà tu tập,
nh́n chung ít nhiều có tiến bộ dần dần. Tính từ hôm
nay chỉ c̣n có hai ngày nữa thôi, chúng ta chỉ cầu
Nhất Tâm, không cầu ǵ khác.
Đa số mọi
người chẳng hiểu Tâm là cái ǵ, học Phật chỉ cần
hiểu được chữ Tâm này th́ công phu mới chẳng uổng
lầm. Có thể nói là mọi người tu hành nhiều năm nhưng
vẫn chưa hiểu rơ chữ Tâm này, nên hôm nay tôi nói
cho quư vị nghe ư nghĩa của chữ Tâm để quư vị dụng
công nơi Tâm.
Tâm ở đây
hoàn toàn chẳng phải là “nhục đoàn tâm” (quả tim
thịt), chẳng phải là vật ǵ, chẳng phải là trái tim
thuộc trong ngũ tạng, lục phủ. Như vậy, nói tới cùng,
Tâm là ǵ? Từ xưa đến nay ai cũng chẳng thấy, ai
cũng chẳng t́m được nó. Chỉ người chứng quả mới hiểu
rơ mà thôi, hễ hiểu được Tâm th́ chứng quả. Người
đến giảng khai thị hôm nay cũng chỉ nói những điều
tạm diễn tả Tâm để mọi người tự suy nghĩ lấy. Một
khi tôi đă nói ra, mọi người nên tin tưởng. Nếu
chẳng tin th́ đành chẳng có cách nào. Những điều tôi
sắp nói rất b́nh thường, nhưng rất khó thực hiện bởi
nó là pháp khó tin dễ hành vậy.
Tâm chính là
ư niệm của mỗi người tự phát khởi. Tâm nghĩ đến điều
ǵ th́ liền khởi ư niệm về điều đó. Nếu bảo kẻ này
tâm tốt, kẻ kia tâm xấu th́ cũng là nói về ư niệm
của người đó. Ư niệm đó gọi là Tâm. Câu nói này, đối
với người đă học Phật mấy năm th́ khó mà nói là
chẳng hiểu được! Tâm ấy chẳng thấy được, chẳng sờ
được, nhưng tự ḿnh chẳng lẽ không hay biết hay sao?
Bởi thế, người ta tu hành chính là tu ngay nơi ư
niệm này. Quư vị nên nhớ kỹ. Làm thế nào để tu nơi ư
niệm?
Muốn hiểu rơ
cách tu th́ trước hết phải hiểu rơ ư niệm đă. Trong
những ư niệm của con người, không có được một ư niệm
tốt mà toàn là vọng niệm, tạp niệm. Vọng niệm không
có ǵ là chân thực, đều là giả dối cả. Tạp niệm là ư
niệm chẳng sạch sẽ, tịnh rồi lại tạp ư? Nói khái
quát, ư niệm của chúng ta toàn là tạp loạn, hư vọng,
toàn là chẳng đúng. Quư vị có biết trong một ngày
chúng ta khởi bao nhiêu ư niệm không? Xin nói cho
quư vị hay: Quư vị xem đây (cụ Lư búng ngón tay),
trong khoảng thời gian búng ngón tay thật ngắn ngủi
này đây, nói không sai cho lắm là quư vị có gần cả
trăm mấy mươi ư niệm, nhanh như vậy đó! Mà một ngày
từ sáng đến tối chẳng ngừng, nói cho quư vị hay là
quư vị chẳng có ư niệm nào cầu thành Phật cả.
Quư vị nghe
vậy tin hay chẳng tin? Có vị nghe tôi nói lời này
liền tin ngay, ai chẳng tin lời tôi, người đó chẳng
tin Phật pháp. V́ sao vậy? Lời tôi vừa nói đó đâu
phải do tôi đặt ra, mà đều là những điều được nói
trong kinh. Ai không tin Phật pháp th́ học Phật cách
nào? Làm sao thành tựu được? Học Phật phải thờ ai
làm thầy? Phật chính là thầy. Làm theo đúng lời Phật
dạy ắt sẽ thành công; chẳng tuân theo th́ chẳng cách
nào thành công được.
Từ sáng đến
tối ư niệm phát khởi chẳng ngừng, nhiều như thế đó,
chẳng ai nắm giữ được những ư niệm này, mà những ư
niệm được phát khởi đó đều là những ư niệm xấu xa
cả. Dù có ư niệm xấu như vậy nhưng có thể là chúng
ta chẳng nói lời xấu, cũng như không làm điều ǵ
xấu. Hừm! Rơ ràng trong tâm nổi lên chủ ư xấu, chẳng
nói lời xấu, chẳng làm điều ǵ, nhưng chủ ư xấu vẫn
có ảnh hưởng, nhà Phật gọi là “chủng tử”. Đây là
cách nói thí dụ, chứ chẳng phải thực sự là gieo hạt
giống xuống.
Một khi ư
niệm khởi lên, nó sẽ in bóng vào tâm. H́nh bóng của
ư niệm được in vào tâm đó gọi là “chủng tử”. Quư vị
nghĩ xem, có những sự việc đă lâu năm, chợt nghĩ đến
th́ những điều ḿnh nghĩ đến đó liền tái hiện. Những
điều ḿnh nghĩ đến đó chẳng hề giảm mất, chúng đều
được chứa trọn trong tám thức điền, cả vạn vạn năm
chẳng bị tiêu diệt mất. Dù cho ḿnh có bận tâm hoặc
chẳng quan tâm ǵ đến chúng, h́nh ảnh của chúng vẫn
tồn tại trong tâm ḿnh. Những ǵ ḿnh mơ thấy trong
giấc ngủ chính là những h́nh ảnh này. Đến lúc chúng
ta lâm chung, những h́nh ảnh trong tâm sẽ hiện ra
ngoài, tạo thành ư niệm. Khi lâm chung vào lúc tối
hậu, khi ư tưởng ḿnh chấp vào đâu, nó sẽ dẫn ḿnh
theo đi đầu thai nơi đó, lại trở vào trong lục đạo
luân hồi.
Nói là lục
đạo luân hồi, nhưng thật ra chỉ có ba đường dưới.
Chúng ta khởi tâm, tâm người không có, tâm trời cũng
không th́ đương nhiên là khởi tâm tam đồ. Tâm này
phát khởi ra sao? Chúng tôi chẳng đề cập đến chuyện
từng làm điều xấu, mà chỉ luận về tâm. Dạy mọi người
giữ giới, mọi người không giữ, hoặc giữ giới nhưng
toàn phát khởi ư niệm phạm giới. Do phạm giới, tâm
này phải đọa trong tam đồ: súc sanh, địa ngục, ngạ
quỷ. Nếu tạo thành hành động (tạo nghiệp) th́ thời
gian thọ khổ dài thêm một phần, tội lớn thêm một
phần. Chẳng tạo thành hành động (chỉ khởi vọng niệm,
c̣n chưa tạo nghiệp) th́ tội ít hơn một phần, thời
gian thọ khổ ngắn hơn một phần. Trước hết, phải phân
biệt hiểu rơ điểm này.
Học Phật tu
hành, tu hành những ǵ? Tu hành chính là tu ư niệm
này. Có người nói tôi chẳng khởi ư niệm lớn, chẳng
nói ǵ, c̣n chẳng thấy ḿnh đang giác ngộ những ư
niệm của chính ḿnh khởi lên th́ c̣n cái ǵ để tu
nữa đây?
Chẳng có một
ai không hề khởi lên một ư niệm nào cả! Đến ngay bậc
Đẳng Giác Bồ Tát vẫn c̣n khởi niệm nữa kia! “Vô niệm”
chính là không vọng niệm, không tà niệm, chứ hoàn
toàn chẳng phải là không có ư niệm nào! Điều này vị
nào xem kinh nhiều cũng đă thấy rơ rồi. Nếu không có
ư niệm th́ trở thành gỗ, đá. Quư vị tu thành gỗ, đá
để làm ǵ?
Chẳng qua (tu
học) là để biến đổi ư niệm. Biến đổi như thế nào?
“Chẳng khiến người khác khởi vọng niệm, chẳng khiến
người khác tạp loạn”. Chẳng khiến người khác
khởi vọng niệm nghĩa là chỉ có ư niệm thanh tịnh,
trong sạch. Điều này trong kinh có nói đến. Ai đọc
chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông
(trong
kinh Lăng Nghiêm) ắt sẽ hiểu câu “tịnh niệm tiếp nối”
nghĩa là khiến cho ư niệm thanh tịnh được liên tục
chẳng gián đoạn. Người khác “loạn niệm tiếp nối”,
ḿnh tu hành sao cho “tịnh niệm tiếp nối”.
Thế nào là “tịnh”?
Tịnh là thuần một ư niệm, không tạp loạn, chẳng có
bảy thứ t́nh cảm: mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét,
sợ, chẳng có giết, dâm, trộm, chẳng có tham, sân, si.
Chẳng có những điều ấy th́ ư niệm thanh tịnh. Quư vị
thử nghĩ xem, nếu ư niệm chẳng tạp loạn th́ chẳng
phải là thanh tịnh hay sao? Không kể bọn ḿnh ra,
ngay cả hàng Địa Thượng Bồ Tát c̣n chưa đạt được ư
niệm thanh tịnh, nói chi là bọn ḿnh! Chúng ta không
có ư niệm thanh tịnh th́ phải làm thế nào đây? Ai có
thể triệt để thực hiện được điều này? Chỉ có ḿnh
Đức Phật! Ư niệm của Đức Phật hoàn toàn thanh tịnh.
Chỗ nào mà mọi bất tịnh đă hoàn toàn trừ khử th́ chỗ
đó chính là thế giới trang nghiêm của Phật, tức là
Tịnh Độ. Kinh Nhân Vương Hộ Quốc chép: “Tam Hiền,
Thập Thánh c̣n trụ trong quả báo, chỉ ḿnh đức Phật
ngự trong Tịnh Độ”. Tam Hiền, Thập Thánh ư niệm
c̣n chưa thuần thanh tịnh. Quư vị cứ lấy kinh Hộ
Quốc Nhân Vương ḍ kỹ từng ḍng sẽ thấy chỉ ḿnh Đức
Phật thanh tịnh ư niệm triệt để. Chúng ta chưa thành
Phật, ngay cả La Hán c̣n chưa chứng, chưa đoạn được
bất cứ thứ Hoặc nào, th́ làm thế nào để tịnh ư niệm
đây?
Trước hết,
hăy hỏi quư vị một câu: Lúc quư vị ở đây niệm Phật
th́ chuyện niệm đó cũng là khởi ư niệm, vậy th́ niệm
đó là Phật hay không phải là Phật? Là Phật. Đúng như
vậy! Phật là thanh tịnh nhất, ngoại trừ Phật ra, tất
cả đều chẳng thanh tịnh, đều hư giả. Niệm đó chính
là A Di Đà Phật. Phật A Di Đà là bậc nhất trong các
Đức Phật. Niệm nằm trong tâm quư vị, tâm chính là A
Di Đà Phật. A Di Đà Phật chính là tâm niệm của quư
vị. Trừ điều này ra không c̣n ǵ khác nữa, ắt sẽ
thành công. Ngoài phương pháp này, không có phương
pháp nào đơn giản hơn nữa. Bởi thế, chẳng cần vận
dụng đến phương tiện nào khác nữa mà tâm tự khai
ngộ. Ở đây niệm chú này, nơi kia niệm chú kia đều
uổng công. Dù có nhiều phương tiện, nhưng chẳng cần
phải tu phương tiện nào khác. Chẳng cần vận dụng
phương tiện mà tâm tự khai ngộ chính là điều tối
khẩn yếu. Quư vị tu hành như thế đó, biến ư niệm của
chính ḿnh thành Phật A Di Đà, ngoài đức A Di Đà
Phật không c̣n có tâm nào khác nữa, th́ gọi là Nhất
Tâm.
Điều vừa bàn
trên chẳng phải chỉ dùng mấy câu là có thể giảng
minh bạch được, mà nó cũng rất khó giảng. Tôi chỉ
nói điều khẩn yếu nhưng vẫn e mọi người dù nghe rồi
vẫn chưa hiểu rơ. Tôi nói câu sau đây nhiều lần: “Từ
sáng đến tối, trong tâm chẳng khởi vọng tưởng, chẳng
khởi tạp niệm”, làm thế nào để đạt được như vậy mới
khỏi uổng công nói như thế! Trong hàng Bồ Tát chưa
chứng được Thất Địa c̣n nhiều vị chưa làm được điều
này.
Nếu quư vị
lại hỏi người khai thị làm được điều này chăng? Tôi
cũng chưa làm được! Quư vị không làm được lại bảo
tôi làm, có hợp lư không? Chẳng hợp lư! Tôi có
phương pháp: vọng niệm khởi th́ tạp niệm cũng khởi.
Khởi rồi th́ làm sao? Kinh dạy: “Đừng sợ niệm
khởi, chỉ sợ giác chậm”. Vọng niệm khởi quư vị
mặc kệ, chẳng thèm biết đến là không được; v́ là bị
ma dựa, là chứa chấp giặc mà ḿnh vẫn không hay th́
chúng sẽ làm loạn trong tâm liền. Quư vị biết là có
ma, có giặc th́ phải pḥng bị. Đó là điều nên làm
vậy!
Khi khởi ư
niệm xấu, quư vị bèn không tu Tịnh Độ nữa hay sao?
Quư vị tu Tịnh Độ nhưng không dùng phương pháp của
Tịnh Độ, lại dùng phương pháp khác, há chẳng phải là
phiền toái sao? Quư vị dùng ngay bốn chữ A Di Đà
Phật, vọng niệm vừa khởi, chẳng lư ǵ đến hết thảy,
cứ A Di Đà Phật, A Di Đà Phật.... Vọng niệm vừa khởi
liền niệm mấy mươi câu A Di Đà Phật đè nó xuống. Đây
gọi là Chế Phục Hoặc. Đè nén được nó th́ ma đó, giặc
đó chẳng nổi dậy được, Đè nén phía dưới, những thứ
bất tịnh chất chứa cũng bị đè xuống dưới th́ trên
mặt sẽ thanh tịnh, giống như một chén nước, nếu cát
bụi bị lắng xuống dưới, phần nước bên trên sẽ trong
veo. Đấy chính là Chế Phục Hoặc!
Giống như vậy,
khi lâm chung, mới vừa giao cảm th́ phần trên sẽ
xuất hiện trước, phần dưới chẳng xuất hiện. Phần
trên là A Di Đà Phật nên bèn được A Di Đà Phật tiếp
dẫn đi. C̣n nếu như phần dưới hiện ra th́ không văng
sanh được, Phật A Di Đà cũng chẳng biết làm sao.
Trên đây là nói về phương pháp “chẳng sợ niệm khởi,
chỉ sợ giác chậm” vậy.
Chúng ta
không phải là người xuất gia. Người xuất gia sống
trong chùa nên không bị xă hội tạp loạn gây chướng
ngại. V́ họ ít việc nên chẳng khởi tạp loạn. Chúng
ta tại gia rất khó làm được vậy, toàn là lo những
việc thế tục. Chẳng hạn như nói đến những vật thường
thấy thuộc về thất t́nh: ai nấy đều tính toán tiền
bạc. Hễ tính toán tiền bạc th́ nghĩ: ai phải đưa cho
ḿnh chừng đó tiền, ḿnh trao cho ai chừng đó tiền,
như vậy được mấy phân lời. Do mấy phân lời bèn suy
tính cái này, hoạch định cái kia. Đấy là tâm tham!
Vậy phải làm sao? Hăy nghe tôi nói mấy câu: Lúc tính
tiền, đừng khởi chủ ư xấu, đừng toan nghĩ cách làm
thiệt hại đến người khác. Ḿnh phải đưa tiền cho ai
th́ cứ đếm một, hai, ba, bốn tờ... bao nhiêu đó, đếm
xong đừng chấp vào đó. Một, hai, ba, bốn chỉ là
những con số để tính đếm, chẳng thiện, chẳng ác.
Tính đếm xong th́ thôi, buông hết xuống, xong việc
rồi thôi, buông bỏ, tâm không nghĩ đến nó nữa.
“Buông bỏ” rất khẩn yếu, ở đây tôi chỉ lấy việc tính
tiền làm thí dụ.
Lại như tại
gia tu hành, ḿnh tu hành, người nhà không tu, ra
chợ mua thịt về kêu ḿnh thái thịt hoặc sát hại con
ǵ đó th́ ḿnh làm sao? Lúc đó cũng đừng có khẩn
trương. Nếu không bảo kẻ kia làm được th́ ḿnh đành
phải làm; nhưng lúc đang làm, muôn phần chớ quên
niệm A Di Đà Phật. Thịt đó, do chúng nó không học
Phật nên tạo ác nghiệp, mới bị biến thành heo, thành
dê, thành thịt, bị người khác ngàn cắt, vạn xẻ. Lúc
quư vị cắt xẻ, cứ mỗi nhát dao là một câu A Di Đà
Phật th́ con dao ấy sẽ thành A Di Đà Phật tiêu tội
cho quư vị. Dùng cách quán tưởng ấy để biến cải tâm
ḿnh là được.
Thậm chí ở
nơi nhà xí, chỗ bất tịnh, dù miệng chẳng niệm Phật
nhưng tâm tưởng: “Tây phương Cực Lạc thế giới không
có việc này, không có đại tiểu tiện. Thế giới Sa Bà
bẩn thỉu như vậy, chúng ta tạo các thứ tội nghiệp
mới phải sinh vào đây, tâm chẳng thanh tịnh mới sống
nơi chẳng sạch sẽ”. Lúc đó, giữ tấm ḷng sám hối,
trong ḷng cầu A Di Đà Phật sớm cho ḿnh được ôm
chân Ngài. Dù làm bất cứ việc ǵ cũng chẳng được
quên A Di Đà Phật, chẳng cần phải niệm ra tiếng.
Trong tâm tưởng Phật để hoán chuyển cảnh giới. Đấy
chính là “ức Phật”.
Quư vị tập
sao cho trong tâm chẳng hề quên Phật là được, dù gặp
phải t́nh huống thế nào, cứ đơn giản làm theo biện
pháp ấy. Tôi nói đi nói lại: Quư vị lấy trộm tiền
của người khác th́ là ăn cắp vặt; vừa niệm Phật vừa
trộm lấy th́ không c̣n cách nào để giảng cho quư vị
được nữa. Quư vị chớ có thiếu khai ngộ như thế.
Nói tóm lại
là phải giữ ǵn giới luật. Phật tại thế thờ Phật làm
thầy, Phật chẳng tại thế lấy Giới làm thầy. Học Phật
th́ chẳng được phạm giới luật. Đă nói là chẳng được
phạm giới mà c̣n trộm cắp vặt ư? Chẳng giữ giới luật
làm sao học Phật được?
Hôm nay tôi
chỉ nói như vậy, chẳng thể nói nhiều. Hoàn toàn là
thường ngày trong lúc ăn uống, đứng ngồi phải luôn
luyện tập, lâu ngày chầy tháng quư vị thường luôn
luyện tập th́ tự nhiên tạo thành thói quen nên sẽ
thành công. Thời gian kết Phật thất này chính là lúc
để kiểm nghiệm công phu ở nhà của quư vị như thế
nào. Đến đây thí nghiệm xem quư vị có đắc Nhất Tâm
trong ṿng bảy ngày này hay không? Nếu ở nhà đă
chẳng hề luyện tập th́ đến đây làm sao đắc Nhất Tâm
được? Làm ǵ dễ dàng như thế được? Quư vị phải nhớ
đây là chuyện thực tế.
Thường ngày
luyện tập sẽ tập thành thói quen tự nhiên. (Khi đó)
chẳng cần đến chùa Linh Sơn dự Phật thất, ở ngay
ngoài đường cũng là đạo tràng v́ đă quen rồi! Dù cho
đến đây dự Phật thất chẳng đạt Nhất Tâm th́ cũng có
được tăng thượng duyên hỗ trợ cho ḿnh. Dù công phu
của ḿnh tệ bạc đến đâu, đến đây thấy ai nấy đều
niệm Phật, dù một ḿnh ta không niệm, nhưng lắng tai
nghe th́ cũng có h́nh bóng đức Phật in vô tâm ḿnh.
Công đức ấy chẳng phải nhỏ. Chúng ta chưa nhận thức
được rằng: Dù chỉ là tăng thượng duyên cũng có đại
lợi ích vậy.
Nói tóm lại,
công phu hoàn toàn cậy vào sự luyện tập thường ngày,
tập quen sẽ tự nhiên thành tựu, tự nhiên làm được
thôi! Trong kinh Di Đà nói các loài chim thuyết pháp,
quư vị vẫn chưa thấu hiểu sao? Cho đến khi nghe gió
thổi qua những cây báu cũng tự nhiên sanh tâm niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, đấy đều là tự nhiên cả.
Đă quy về tự nhiên th́ tự nhiên chẳng sợ ǵ hết, làm
bất cứ điều ǵ cũng là để lợi ích chúng sanh. Tâm
trên v́ Phật pháp, dưới v́ chúng sanh th́ là đă
thành công rồi. Một mảy riêng tư trong tâm cũng
không có. Hăy nhớ kỹ điều này!
Hơn nữa, từ
ngày hôm nay trở đi, bao nhiêu tội nghiệp trước kia
hăy để cho chúng bị tiêu hóa hết trong tâm đi. Làm
thế nào để tiêu hóa? Chẳng tạo vạ mới nữa. Chẳng tạo
vạ mới tức là chẳng vun bồi những chủng tử cũ. Những
chủng tử ấy chẳng được tăng trưởng ra ngoài th́ lâu
ngày chúng sẽ tự nhiên diệt đi. “Tùy duyên tiêu
cựu nghiệp” nghĩa là gặp phải sự việc bất hảo
liền gắng thay đổi hoàn cảnh. Như phần trên đă nói,
quư vị bắt buộc phải sát sanh không c̣n cách nào
khác, th́ quư vị nên niệm Phật thay cho chúng nó.
Tâm quư vị chẳng có những việc xấu ấy, tùy theo
những sự việc xấu ấy mà biến cải tâm lư. “Tùy
duyên tiêu cựu nghiệp, cánh bất tạo tân ương” (tùy
duyên tiêu nghiệp, chẳng tạo thêm vạ mới) như vậy
th́ sẽ thành công.
Tiếp đây, tôi
sẽ đọc qua bài kệ một lượt cho quư vị nghe. Ai thấy
được th́ nh́n, không thấy th́ nghe cũng vậy thôi.
“Tạp niệm
giai thị b́nh tố tội”:
Tạp niệm chính là vọng niệm khởi động. Chẳng phải là
quư vị muốn như vậy, nhưng vọng niệm chính là chủng
tử của tội nghiệp hiển hiện. Khi vọng niệm khuấy
động bên trong th́ gọi là Ma. Thường ngày, khi nào
quư vị gây tạo tội nghiệp th́ khi ấy vọng niệm phát
khởi .
“Nhược bất
tạo nghiệp niệm bất sanh”:
Quư vị chẳng tạo tội nghiệp th́ vọng niệm chẳng sanh.
Vọng niệm chẳng sanh th́ ư niệm nào khởi lên cũng là
tịnh niệm, “tịnh niệm tiếp nối”.
“Tùng kim
mạc thiết tái tạo nghiệp”:
Từ nay, lúc nào cũng là lúc ḿnh niệm Phật. Từ nay
về sau đă chẳng tạo hết thảy nghiệp th́ tại sao c̣n
nhiều phen tổn hại chúng sanh? Độ chúng sanh chẳng
phải là tổn hại chúng sanh. Ḿnh tổn hại chúng sanh
trong xă hội th́ c̣n học Phật cái nỗi ǵ? Tạo nghiệp
đều là làm hại người khác, ta chẳng nên tạo nghiệp.
“Nhất Tâm
Bất Loạn tự nhiên thành”:
Có vậy th́ mới đắc Nhất Tâm Bất Loạn, tự nhiên thành
công. Nếu c̣n tạo nghiệp th́ đạt Nhất Tâm sao nổi!
Nói đă nhiều
rồi, mỗi câu đều có đạo lư sâu xa. Trong thời gian
này, mọi người nên gắng đạt Nhất Tâm Bất Loạn. Niệm
Phật cầu Nhất Tâm Bất Loạn rất khẩn yếu. Tính đến
mai vẫn c̣n hai ngày, mọi người hăy suy nghĩ những
điều đó, về đến nhà cũng vẫn thực hành theo đó. Chư
vị đồng tu hăy buông xuống vạn duyên, niệm mỗi một
câu A Di Đà Phật!
Trang 18
|
|
VII.
KHAI THỊ TRONG PHẬT THẤT NĂM TÂN DẬU
(đệ tử
Liên Thục Mỹ kính ghi)
Tính đến
nay đă là ba mươi năm mở Phật thất ở đây, mỗi
lần đều phải có người giảng nói. Theo quy củ,
phải thỉnh thiện tri thức trong Tịnh Độ Tông đến
khai thị. Khai thị chẳng phải là giảng kinh,
thuyết pháp, mà là nói về những điểm thật trọng
yếu, phải thuyết minh điều quan trọng là làm thế
nào để đạt Nhất Tâm. Chẳng đạt được Nhất Tâm th́
dù có niệm Phật vạn năm cũng chẳng thành công.
Nay tôi
chỉ là một gă bạch y, công phu cũng chẳng giỏi,
tuy từng gặp được các bậc đại đức trong Tịnh
Tông, gặp minh sư chỉ điểm, nhưng v́ ngu độn,
chỉ có thể dựa theo lời tổ sư giảng, dựa dẫm các
ngài để giảng giải, chẳng dám xưng là giảng khai
thị.
Ba mươi
năm qua, ai giảng trong mỗi kỳ Phật thất? Toàn
là tôi giảng. Mỗi năm, đồng tu tham gia cũ mới
đều có, lời giảng cũng khác. Trong số đó, có
người đă từng nghe giảng suốt ba mươi năm qua,
nay lại giảng cái ǵ đây? Giảng nữa cũng vẫn là
những lời đó. Nghe qua rồi, bạn đồng tu chẳng
muốn nghe lại v́ đều đă hiểu cả rồi. Thử hỏi có
ai làm được chưa? Nếu chưa làm được th́ có giảng
vẫn là vô dụng.
Nay tôi
dựa theo khai thị của tổ sư để giảng. Tổ sư dựa
theo kinh điển mà kinh là từ miệng Phật nói,
pháp môn đều do Phật truyền, điều ǵ kinh không
nói th́ tổ sư cũng chẳng dám tùy tiện đặt ra.
Nhưng Tam Tạng kinh điển quá nhiều, phàm phu
chẳng tiếp nhận hết nổi, chỉ có thể chuyên tu
theo một pháp môn. Chúng ta đều tu Tịnh Độ nên
tôi dựa theo pháp môn Tịnh Độ mà nói.
Có lẽ quư
vị nghi hoặc sao tôi không nói thẳng vào phương
pháp chứng đắc Nhất Tâm? Đó là v́ hiện tại mọi
việc đều chẳng b́nh thường, chẳng đúng lẽ, đều
suy thoái cả. Có người bảo bây giờ náo nhiệt hơn
trước, sao lại bảo là suy thoái? Nói đến Nhiệt
th́ toàn thân mướt mồ hôi, ḷng đầy phiền muộn,
Náo là lộn xộn bảy tám tầng. Nói đến tu Tịnh Độ
th́ phải đắc Nhất Tâm Bất Loạn mới có thể văng
sanh, nếu náo nhiệt th́ làm sao đạt Nhất Tâm
được? V́ vậy mới bảo là suy thoái.
Mọi người
là bạn già của tôi, đă niệm Phật ba mươi năm rồi,
sau này nếu như mọi người chẳng đạt được kết quả
tốt là tôi có lỗi đối với mọi người. Cổ nhân nói:
“Thiên nhân ngật phạn, nhất nhân hoàn tiền”
(ngàn người ăn cơm, một người trả tiền). Kết
thất niệm Phật, đông người tham gia, phí tổn
cũng nhiều. Nếu như chẳng có kết quả ǵ lại là
tạo tội nghiệp, hết thảy tội lỗi người giảng
khai thị phải gánh. Nếu như trong đây có một ai
phát chân tâm, đạt được Nhất Tâm, sau này văng
sanh th́ coi như là người ấy đă bồi hoàn phí tổn
cho đạo tràng này rồi. Ngày hôm nay khác với năm
ngoái, xin quư vị phải chú ư tột bực, nghĩ đến
văng sanh th́ ắt sẽ niệm đến mức Nhất Tâm, đừng
có ồn náo vô ích.
Chư vị tu
hành hơn ba mươi năm. Cổ nhân nói: “Thuyết
đắc nhất trượng, bất như hành nhất xích”
(nói một trượng không bằng làm được một thước).
Nói nhiều vô dụng, cần phải thật tu mới nên.
Kinh điển rất nhiều, nhưng hiểu được vạn pháp
chẳng bằng hiểu kỹ một pháp, bởi lẽ bất luận như
thế nào cũng đều phải y theo một môn tu hành mới
ḥng thành công được. Dùng bất cứ câu nào trong
kinh cũng đều chứng quả được, nhưng vạn câu kinh
chẳng bằng một câu Phật!
Có lẽ mọi
người không tin điều này, v́ thường có bạn đồng
tu đến hỏi tôi cần phải niệm thêm bộ kinh nào?
Bộ kinh nào cũng tốt v́ đều là lời Phật dạy cả.
Nếu như khóa sáng mỗi ngày tụng hết cả Tam Tạng
mười hai bộ kinh th́ công đức rất lớn, nhưng xưa
nay, ngay cả các vị tổ sư cũng chưa ai có thể
niệm hết trong một buổi sáng được. Sáu chữ trong
một câu Phật hiệu, tôi chỉ hiểu nổi ba chữ, hiểu
biết mới được một nửa như vậy mà đă có thể giảng
suốt ba mươi năm. Quư vị lợi căn nếu hiểu được
bốn chữ th́ ắt sẽ thành tựu.
V́ sao
một câu Phật hiệu lại có hiệu quả lớn đến thế?
V́ kinh do Phật nói ra, Tăng do dựa vào kinh mà
có. Đă văng sanh rồi vẫn phải niệm Tam Bảo. Phật
đứng đầu Tam Bảo. V́ vậy, hiểu được một câu Phật
hiệu là thành công. Kinh Di Đà dạy: “Chẳng
thể dùng chút thiện căn, phước đức nhân duyên để
được sanh về cơi kia”. Niệm Phật là trồng
thiện căn. Cây có gốc mới có thể sanh trưởng; có
thiện căn th́ mới có thể khai hoa, kết quả.
Những điều này trước đây tôi đă giảng qua, nhưng
chỉ là diễn giảng cách khác.
Ai cũng
niệm kinh Di Đà, nhưng vẫn không hiểu. V́ lẽ ǵ
không hiểu? Là v́ chưa có duyên khai ngộ. Trong
Tịnh Tông cũng cần phải khai ngộ. Không khai ngộ
th́ là mê hoặc, điên đảo, nhưng muốn khai ngộ
phải là người có phước khí. V́ thế kinh
Di Đà
nói: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước
đức nhân duyên”. Muốn khai ngộ th́ phải tu
phước.
Phước đức
là ǵ? Kinh Di Đà nêu ra ba mươi bảy Trợ Đạo
Phẩm, điều này khá rắc rối, không phải ai cũng
làm được. Sau này, các tổ sư nói gọn lại là mười
thiện nghiệp, nhưng mọi người vẫn không hiểu,
nên lại phải nói pháp phương tiện là “tin sâu
nhân quả”; cốt yếu là “đừng làm các điều
ác, vâng làm các điều thiện”. Thiện ác chủng
loại rất nhiều. Nếu như giữ được năm giới cấm
căn bản, khởi tâm làm điều ǵ th́ hết thảy đều
là v́ công (chẳng tư tâm), đó là Thiện. Tâm
riêng tư cuồn cuộn th́ là Ác. Trừ khử ba sự ác
căn bản là Tham, Sân, Si, làm ǵ cũng v́ mọi
người th́ là có phước đức.
Có phước
sẽ khai ngộ. Cổ nhân nói: “Phước chí tâm linh”,
nghĩa là: Phước đến, tự nhiên tâm nhanh nhạy,
vừa nói hiểu liền, giảng một câu hiểu đến tám,
mười câu. Vô phước th́ tâm chẳng linh lợi, giảng
cả trăm câu c̣n chưa nghe hiểu được nổi một câu.
Học Phật cầu cảm ứng đạo giao, cảm ứng được Phật
th́ gọi là “linh cảm”. Tâm hôn mê, trầm trệ làm
sao cảm ứng được Phật? Dù Phật có đến tiếp dẫn
vẫn chẳng chịu đi. Công phu phải tu tập hằng
ngày. Tu hành chẳng trở ngại đến nghề nghiệp dù
là nông, công, thương, công chức, y sĩ. Chỉ cốt
sao dùng tâm Bồ Đề làm việc th́ là Thiện, phước
chí tâm linh tự nhiên khai ngộ.
Ngày hôm
nay kết thất là đi dự thi, lúc b́nh thường khéo
công phu th́ lúc kết thất khả dĩ đắc Nhất Tâm,
chứ chẳng phải là cứ rêu rao rằng bảy ngày liền
được Nhất Tâm, liễu sanh tử. Trong ṿng trời đất
làm ǵ có chuyện thuận tiện đến thế? Uống cạn
một hơi chén trà c̣n chẳng dễ, huống là đại sự
liễu sanh tử! Hoàn toàn là do thường ngày luyện
tập. Tâm, Phật và chúng sanh là cùng một sự.
Trọn tấm ḷng đều nghĩ đến mọi người, khởi ư
niệm nào cũng đều là Phật th́ tâm chính là Phật.
Tâm chẳng niệm Phật, tơ tưởng toàn là những điều
xấu xa tạp nhạp, lộn xộn trong thế gian th́ tâm
là phàm phu. Thành Phật hoặc làm phàm phu đều là
do tâm tạo. Tiếp theo đây, tôi sẽ giảng một bài
kệ để kết thúc:
“Phật
tại tâm trung mạc ngoại cầu”
(Phật ở trong tâm chớ ngoại cầu): Phật ở ngay
trong tâm quư vị, thành Phật hay thành chúng
sanh đều là do chính quư vị mà thôi. T́m cầu đức
Phật bên ngoài là lầm lẫn. Câu này nói về thiện
căn, câu tiếp theo nói về phước đức.
“Tham
sân phóng hạ thị chân tu”
(tham, sân buông bỏ ấy chân tu): Tham, Sân, Si
là ba phiền năo căn bản. Chẳng buông bỏ được
chúng để tu hành đúng như lời dạy th́ chính là
nói dối người. Nếu như buông bỏ được chúng th́
mới là chân chánh tu hành.
“Niên
quang tam thập năi như cựu”
(Ba mươi năm rồi vẫn như cũ): Phật thất tổ chức
ở đây đă ba mươi năm rồi, tôi cũng đă đến giảng
cả ba mươi năm. Mười năm đầu, người thành tựu
chẳng ít. Mười năm kế giảm bớt. Mười năm sau
chẳng được như trước. Năm nay tuy có ba người
hiện tướng lành văng sanh, nhưng nói chung là
mỗi năm lại kém hơn năm trước, vẫn là y như cũ
chẳng tiến bộ ǵ. Sau này ai lại đến giảng trong
ba mươi năm nữa đây?
“Thế
Chí, Quán Âm đại phát sầu”
(Thế Chí,
Quan Âm cũng phát rầu): Chúng ta niệm
Phật tệ hại như vậy, chẳng phải chỉ ḿnh Phật A
Di Đà không cao hứng mà cả Bồ Tát Quán Âm, Thế
Chí cũng phải buồn giùm quư vị. Mỗi cá nhân quư
vị tu tập sao đây? Nếu chẳng khéo tu tập th́
thuyền từ phổ độ của Quán Âm Bồ Tát cũng chẳng
độ được quư vị. Thế Chí Bồ Tát dạy quư vị nhớ
Phật, niệm Phật, tịnh niệm tiếp nối, quư vị cũng
chẳng nghe. Hai vị Bồ Tát phải buồn thay cho quư
vị. Các Ngài buồn chuyện ǵ? Các Ngài thấy ḿnh
có lỗi đối với Phật A Di Đà, dạy học sinh thế
nào mà chẳng thành công chi hết? Hôm nay là
thánh đản đức A Di Đà, các Ngài không có cách
nào bái thọ Phật A Di Đà được hoàn toàn là do
lỗi của bọn ta.
Trang 19
|
|
XIII. LỜI TRẦN T̀NH CỦA CỤ TUYẾT TĂNG
(3)
NHÂN DỊP PHẬT THẤT NĂM NHÂM TUẤT
Kết Phật
thất tại đây đă hơn ba mươi năm. Mỗi lần kết
thất, học nhân đều đến đây giảng. Thoạt đầu, mỗi
ngày giảng một lượt, đem những sở học về phương
pháp Niệm Phật của chính ḿnh cống hiến cho mọi
người, c̣n hai chữ “khai thị” chẳng đảm đương
nổi. Ba mươi năm qua, tôi đă nói rất nhiều về
pháp môn này cũng như cách niệm Phật, đều là bàn
về những kinh nghiệm của cổ nhân, chỉ cần chọn
lấy một điều để thực hành th́ sẽ có thể thành
công.
Hiện tại
chính là thời kỳ Mạt Pháp. Tu các pháp môn khác
đều phải cậy vào tự lực để đoạn Hoặc, chứng chân.
Muốn đắc tiểu quả A La Hán cũng phải cả ngàn năm,
vạn năm, thật chẳng dễ thực hiện được. Chỉ có
mỗi Tịnh Độ là pháp môn Nhị Lực, tự lực chẳng đủ
th́ Phật lực đến gia bị. Điểm đặc biệt nhất là
chẳng cần đoạn Hoặc, vẫn có thể cảm ứng đạo giao,
lúc lâm chung Phật liền đến tiếp dẫn, được văng
sanh là thành tựu. Pháp môn này thành tựu ngay
trong đời này, nhưng điều khẩn yếu là “cảm ứng
đạo giao”.
Nếu chẳng
cảm ứng đạo th́ chẳng thể thành tựu. V́ sao
chẳng cảm ứng? A Di Đà như vầng trăng rạng ngời
trên không, tâm người niệm Phật giống như nước.
Nước phải trong lặng th́ vầng nguyệt mới soi
bóng được. Đấy là cảm ứng; có vậy th́ mới có thể
tiếp dẫn văng sanh. Nếu tâm chẳng thanh tịnh
giống như nước đục ngầu, vầng trăng chẳng hiện
bóng được. Đấy chính là chẳng cảm ứng, dù A Di
Đà Phật ở ngay trước mắt cũng chẳng văng sanh
được.
Làm thế
nào để cảm ứng? Đấy chính là điểm khác nhau giữa
kết thất niệm Phật và niệm Phật ở nhà. Đến đây
rồi th́ tâm ǵ cũng buông xuống hết, một ḷng
niệm Phật, ở nhà đâu có làm như vậy được. Kinh
Di Đà chuyên giảng về chấp tŕ danh hiệu, sáu
chữ hay bốn chữ Phật hiệu, một ngày, hai ngày
hoặc là bảy ngày, chỉ mong sao có ngày niệm đến
Nhất Tâm, tâm thủy lặng trong, cùng Phật cảm ứng,
đấy mới kể là thành tựu, lúc lâm chung mới bảo
đảm. Nếu chẳng làm được như vậy th́ kết thất
cũng uổng công, khác ǵ niệm Phật tại nhà đâu.
Nói đến
Nhất Tâm th́ trong ngàn vạn người khó có được
một ai hiểu rơ. Chẳng hiểu th́ sao mà làm được?
Dù có làm được cũng sợ là chẳng biết [ḿnh có
thể làm được]. Vậy th́ làm sao đây? Đạo lư này,
tôi là kẻ phàm phu hoàn toàn chẳng biết ǵ. Tuy
nhiên, trong Phật thất chẳng thể giảng kinh nên
tôi chỉ dựa theo nghĩa kinh và lời giảng giải
của chư tổ sư để tŕnh bày cùng quư vị.
Kinh Di
Đà nói: “Nhất Tâm Bất Loạn”, thế nào là
Nhất Tâm? Lời tục nói: “Tâm vô nhị dụng”.
Dụng tâm là khởi ư niệm tính làm chuyện ǵ đó.
“Vô nhị” nghĩa là khi ư niệm phát ra ngoài th́
giống như vết kim đâm rất nhỏ, chỉ có thể lọt
qua một sự, chứ hai sự chẳng lọt được. Khi ư
niệm đi vào trong tâm cũng giống hệt vậy. Chỉ có
một ư niệm lọt vào được nhưng rất nhanh, rất nhỏ.
Trong khoảng khảy ngón tay, có sáu mươi sát na.
Mỗi sát na có 110 ư niệm, toàn là do nơi ḿnh
giác ngộ. Hễ giác ngộ th́ sẽ khéo làm được. Các
tông khác chẳng cho phép khởi ư niệm, mà phải
đạt đến vô niệm, rất là khó. Tịnh tông chẳng sợ
khởi niệm, chỉ sợ hay biết chậm. Càng khởi càng
niệm. Niệm ǵ? Niệm A Di Đà Phật. A Di Đà mà
ngừng một chút th́ ư niệm xấu bèn hiện lên ngay.
Nếu “tâm vô nhị dụng” (tâm không khởi lên
ư niệm nào khác) th́ mỗi niệm khởi lên đều là A
Di Đà Phật, cũng không niệm điều ǵ khác. Đó
chính là Nhất Tâm.
Lâm chung
Phật đến tiếp dẫn. Tiếp dẫn cái ǵ? Chẳng phải
tiếp dẫn cái túi da thối tha này, cũng chẳng
tiếp dẫn vọng niệm, mà là tiếp dẫn cái tâm niệm
Phật. Vừa mới khởi vọng niệm liền tạo thành
chướng ngại, dù Phật ở ngay trước mắt cũng vẫn
có chướng ngại. Tâm ḿnh cùng Phật quang chẳng
chiếu rọi lẫn nhau được nên chẳng thể cảm ứng
đạo giao, nên chẳng phát sanh hiệu lực. V́ vậy
phải niệm cho đến Nhất Tâm. Lâm chung “tâm chẳng
điên đảo” th́ liền được văng sanh thế giới Cực
Lạc của Phật A Di Đà.
Đến đây
kết thất niệm Phật mà chẳng hiểu rơ đạo lư này
th́ có khác ǵ niệm Phật ở nhà. Nếu như ở nơi
đây, tuy miệng niệm Phật, nhưng tâm vẫn nghĩ đến
chuyện khác th́ hỏng rồi. Ngay trong lúc niệm
Phật, tâm vừa nghĩ tưởng đến phú quư liền chẳng
thể ra khỏi lục đạo, luân hồi, thân sau sẽ sanh
lên trời. Hễ nghĩ đến gia đ́nh th́ gia đ́nh
chẳng phải là Tây Phương, tương lai sẽ lại làm
người. Vừa nghĩ đến ḿnh hay hơn người khác, ôm
ḷng ngă mạn, thân sau chỉ e vào trong đường Tu
La. Nếu một mặt niệm Phật, một mặt vẫn sanh khởi
ba độc Tham, Sân, Si th́ tương lai sẽ đọa làm
hung thần. Nếu lại tham đắm thức ăn th́ thân sau
đọa làm loài quỷ đa tài
(4).
Nếu lúc niệm hôn trầm mà chẳng hay biết th́
tương lai sẽ đọa vào súc sanh. Nói chung đều là
tương ứng với lục đạo, chẳng đến được Tây Phương.
Nhưng
người niệm Phật do công đức niệm Phật chẳng đọa
địa ngục, chẳng biến thành ngạ quỷ, chẳng làm
thân súc sanh hạ đẳng. Dù sanh trong bất cứ loài
nào cũng đều hưởng phước, nhưng đến đời thứ ba,
do lúc chuyển thân, thần thức bị mê, công đức
niệm Phật chẳng thể hiện hành, chỉ e lại bị đọa
lạc rồi thọ tội.
V́ thế, ở
nơi này niệm Phật, phải nên buông xuống hết
thảy, khi niệm sáu chữ hoặc bốn chữ hồng danh
phải từ trong tâm phát khởi, tai nghe cho rơ
ràng, minh bạch, lại in vào trong tâm, đi ra,
trở vào, niệm sao cho thành một mối, nhưng chỉ
có loạn tâm là chưa buông xuống được. Đến khi
Phật thất kết thúc, chẳng phải là về đến nhà
liền được văng sanh đâu. Ở nhà lâu ngày, sáng
tối niệm Phật chừng hai tiếng đồng hồ, loạn tâm
lại xuất hiện th́ cũng vô dụng. V́ thế phải ǵn
giữ “tịnh niệm tiếp nối”. Ở đây làm như thế nào
th́ về đến nhà cũng phải làm giống hệt vậy, tiếp
tục chẳng gián đoạn th́ mới thành công được.
Tôi chỉ
giảng đến đây, phải nhớ kỹ mới bảo đảm được.
Tiếp đây, tôi nói một bài kệ để kết thúc:
“Ưng
tri tán loạn niệm Di Đà”:
Mọi người phải biết: Nếu tâm tán loạn chẳng làm
ǵ được nổi, cứ niệm Phật như thế th́ sẽ ra sao?
“Không
phí công phu nan giải thoát”:
Công phu uổng phí, chỉ được phước báo, chẳng thể
văng sanh, vẫn ở trong lục đạo luân hồi, rất khó
giải thoát.
“Nhân
sanh thọ mạng hô hấp gian”:
A, cứ tà tà mà niệm th́ sao? Tà tà không được.
Kinh dạy: “Mạng người trong hơi thở”. Một
hơi thở ra không trở lại th́ liền thành đời sau,
chớ tu hành lơ là.
“Nhất
thất cơ duyên khổ vạn kiếp”:
Hiện tại, cơ duyên rất hiếm. Hễ bỏ lỡ cơ hội,
nhân duyên ắt sẽ thọ khổ. Thọ khổ như thế nào?
Luân chuyển trong lục đạo, khó ra được nổi. Ngàn
kiếp, vạn kiếp mới có lại được thân người. Tám
ngàn năm sau là thời kỳ pháp diệt, chẳng c̣n có
Phật pháp, khác nào Bắc Câu Lô Châu, khó được
giải thoát. Tám ngàn năm là c̣n sớm đấy. Người
thọ trăm tuổi, khi thọ báo hết chẳng văng sanh
Tây Phương, sẽ sanh về chỗ tốt đẹp trên trời.
Tầng trời thứ nhất là Tứ Vương Thiên, thọ mạng
năm trăm năm. Một ngày đêm trên trời đó bằng năm
mươi năm dưới thế. Ở trên trời hưởng mấy vạn năm
phước trời, khi đọa xuống nhằm thời kỳ Pháp Diệt,
chẳng có Phật pháp, sống sống chết chết chẳng hề
được nghe Phật Pháp, chẳng ra khỏi tam ác đạo
nổi, thọ khổ vạn kiếp.
Trang 20
|
|
IX.
DAO BÉN CẮT DỨT MỐI TƠ LOẠN
(Đệ tử
Hoàng Khiết Di kính ghi)
Người
trong cơi đời, từ xưa không ai tránh khỏi một
lần chết. Dù là bậc thế gian thánh nhân, đến lúc
vẫn cứ phải chết như thế. Chỉ có bậc thánh nhân
xuất ly thế gian mới giải quyết được vấn đề sanh
tử. Nhưng Đức Phật cũng chẳng thể ngay trong một
đời liền thành Phật, mà phải do tu hành từng
bước mới chứng được Phật Quả. Cho nên nói:
“Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, chẳng tu chẳng
đắc”. V́ thế, quư vị phải tin là ai cũng
phải chết, chỉ sợ “chết không được thôi!” v́ sau
khi chết đi, ắt sẽ luân hồi trong lục đạo, nhưng
trong sáu đường, khó đạt được cơi trời, người,
đọa lạc trong tam đồ th́ khổ chẳng thể nói xiết.
Duy Thức
Tông lập ra cái gọi là “Tam Lượng”. Chữ Lượng có
nghĩa là “phân thốn” (phân, tấc, ư nói đo đạc),
“đong” hoặc “cân”. Vật phẩm phải dùng cái cân để
cân lường th́ mới có tiêu chuẩn làm cơ sở để xác
định. C̣n như trong việc phân biện giữa các giáo
th́ lấy ǵ để chiết trung (chọn lọc lấy những
điểm hay, đúng)? Phải dùng Thánh Ngôn Lượng, tức
là phải dùng lời Phật dạy làm tiêu chuẩn để đo
lường. Có đáp án chánh xác như thế th́ tu hành
mới có cơ sở để dựa vào. Bây giờ so sánh xem
chuyện tu Tịnh Độ của mọi người là đúng pháp hay
chẳng đúng pháp. Nếu tu đúng pháp th́ là Tịnh Độ
Tông, tu chẳng đúng pháp th́ là “loạn ty vô
đầu” (tơ rối tung không thấy đầu mối).
Chúng ta
là đạo tràng Tịnh Độ, phải nghĩ kỹ đến tận cùng
chữ Tịnh. Người tu hành chẳng đến đạo tràng để
cầu náo nhiệt, mà là cầu công đức và thiện căn.
Một câu A Di Đà Phật là thiện căn lớn nhất. Chỉ
cần quư vị niệm đến tâm tịnh th́ là sống trong
Tịnh Độ. Nếu trong tâm chẳng tịnh, loạn tạp lung
tung th́ chính là “loạn ty vô đầu” như trên đă
nói. Tâm loạn như vậy th́ lúc thế này, lúc thế
khác, chẳng thể đạt được lợi ích chân thật.
V́ thế
tham dự Phật thất cầu Nhất Tâm Bất Loạn th́ phải
niệm niệm đặt nơi Phật hiệu, có vậy mới có thể
văng sanh. Nếu không, suốt ngày niệm kinh này,
niệm kinh kia, không có chút tŕnh tự tu tập nào
th́ chính là “loạn ty vô đầu”. Nếu quư vị thật
sự tin tưởng vào sáu chữ hồng danh th́ mới chứng
được quả vị. Chẳng tin th́ dù có niệm rách họng
cũng uổng công!
Cầu Nhất
Tâm Bất Loạn chính là Thánh Ngôn Lượng từ kim
khẩu của Phật, là điểm trọng yếu của Tịnh Tông,
có vậy mới có thể đới nghiệp văng sanh. Nghiệp
là nghiệp lực, nghiệp do ḿnh tạo th́ thân ḿnh
phải mang lấy, đó chính là phiền năo. Chỉ cần
chế phục được phiền năo th́ sẽ được văng sanh,
đoạn sạch sanh tử th́ mới gọi là Niết Bàn. Đấy
đều là những điều Phật dạy. Nếu hoài nghi lời
Phật dạy, cho là sai lầm th́ c̣n học Phật để làm
ǵ?
Tiếp đây,
tôi giảng một bài kệ để kết thúc:
Lục tự
dĩ ngoại giai phi nhất,
Nan dữ
Di Đà cảm ứng thời
Thánh
lượng thị Phật thân khẩu thuyết,
Nguyện
nhữ khoái đao đoạn loạn ty!
Tạm
dịch theo ư:
Ḿnh danh
hiệu Phật là thuần nhất,
Niệm Phật
tán loạn khó cảm thông,
Thánh
lượng chính miệng đức Phật dạy,
Mau dùng
dao bén chặt tơ rối.
|
“Lục tự”
là “Nam mô A Di Đà Phật”. Ngoại trừ niệm sáu chữ
này ra, tất cả những thứ khác đều chẳng thuần
nhất. Nếu quư vị niệm Phật nhưng tâm mơ tưởng
chuyện khác th́ sao? Tâm chẳng trụ vào sáu chữ
hồng danh sẽ khó cảm ứng Phật. Chữ “loạn ty vô
đầu” là tiếng cổ, là Thánh Ngôn Lượng. Một cục
tơ rối, không hề có đầu mối ǵ hết, gỡ bao giờ
mới xong? Xin quư vị cầm con dao bén chặt ngay
cho nó đứt đôi ra, tức là Nhất Tâm rồi, chẳng
c̣n loạn nữa.
Kinh Di
Đà nói rơ thế giới Cực Lạc được trang nghiêm bởi
vàng, bạc, lưu ly, xích châu, mă năo... Đấy đều
là lời Phật nói. Nếu quư vị không tin, chỉ thích
nói là đất phủ cỏ xanh th́ cứ việc tùy tiện. Đă
tin vào Tịnh Độ Tông rồi th́ phải biết điều tối
khẩn yếu hoàn toàn là sáu chữ hồng danh. Đừng có
nói sáu chữ này nông cạn. Nếu thật sự là kẻ giải
ngộ sâu xa th́ thấy sáu chữ ấy sâu xa, giải ngộ
nông cạn sẽ thấy là nông cạn, hoàn toàn tùy
thuộc vào mỗi người thôi! Các đồng tu hăy mau
cầu Nhất Tâm, dao bén chặt tơ rối, lời Phật
chẳng dối đâu!
Trang 21
|
|
X.
KHAI THỊ TẠI PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM ẤT SỬU
(Đệ tử
Ngô Bích Hà kính ghi)
* Dốc ḷng
trừ mạn chướng, thiết tha cầu Nhất Tâm
Thưa các
vị lăo sư, các vị đồng tu.
Hôm nay
tôi đến đây giảng, trước hết thanh minh một điều:
Tôi hoàn toàn không đến đây để giảng khai thị.
Hai chữ “khai thị” tôi đảm đương chẳng nổi, tôi
chỉ đem những kinh nghiệm của chính ḿnh ra bàn
bạc để người này, người kia tham khảo mà thôi.
Tiếp đến,
thanh minh một câu nữa: trong lúc ngồi giảng ở
đây, xin miễn hết thảy những khách sáo thế tục,
chỉ nghiên cứu “Nhất Tâm Bất Loạn”. Người giảng,
người nghe đều lấy “Nhất Tâm Bất Loạn” làm mục
tiêu. Nếu không, bị phân tâm một phần th́ chẳng
phù hợp với Phật thất vậy. Xin quư vị nhiếp tâm,
tâm không nghĩ ǵ khác lắng nghe!
Luận về
“Nhất Tâm” th́ đây là một đạo tràng đă lâu, hẳn
quư vị hiểu rồi. Đă hiểu rồi th́ xin hỏi một
câu: “Quư vị đạt được hay chưa?” Hơn ba mươi năm
qua, có vị nào đạt được Nhất Tâm Bất Loạn chưa?
Nếu như năm nào cũng dự Phật thất nhưng năm nào
cũng tán loạn th́ có phải là dự Phật thất trở
thành chuyện phù phiếm hay sao? Thế nhưng, người
học Phật làm ǵ cũng phải chân thật. Bài kệ khai
kinh có câu: “Nguyện giải Như Lai chân thật
nghĩa”. Việc hư dối th́ có làm cũng vô ích.
Đă vậy th́ quư vị ắt sẽ tự hỏi: “Niệm đến Nhất
Tâm Bất Loạn trọn chẳng hề có ư?”
Tôi chẳng
rơ là trong số quư vị, hoàn toàn không có một ai
làm được chăng? Ngược lại, tự hỏi ḿnh trước.
Với tôi th́ Nhất Tâm Bất Loạn có thời gian nhất
định. Trong khoảng thời gian ngắn sẽ đạt Nhất
Tâm Bất Loạn. Nói như vậy ít nhiều đă có “cống
cao, ngă mạn”, tự ḿnh khoa trương. Tiếp đây,
chúng ta sẽ bàn về “cống cao, ngă mạn”. Trong ba
mươi năm qua, tại nơi đây, dự Phật thất, tôi
giảng qua vấn đề này chẳng biết là đă bao nhiêu
lần, nhưng giảng rất nông cạn. Quư vị trong tâm
ngầm coi thường, nghĩ rằng: “Ông không cần phải
nói, những chuyện đó tôi từng nghe qua rồi!” Quư
vị ơi! Khó biết được chuyện nào ḿnh đă thật sự
nghe qua lắm đấy! Nếu c̣n giữ tâm như vậy th́
chẳng đắc Nhất Tâm, mà là được cống cao, ngă
mạn, vẫn c̣n là phiền năo. Nói như vậy nghĩa là
sao?
Quư vị
nghe kinh cũng nhiều, xem kinh chẳng ít, đáng
coi là bậc đa văn, nhưng chỉ hiểu được về mặt
văn tự, chứ xét về mặt công phu chân thực th́
chẳng đáng bàn tới. Luận đến chân lư “tâm,
Phật, chúng sanh b́nh đẳng bất nhị”, quư vị
đă hiểu được đạo lư này hay chưa? Nói đến Phật
th́ chưa từng thấy qua. Nói đến chúng sanh th́
mọi người đều nghĩ là ḿnh đă từng thấy qua chỉ
v́ trong tâm nghĩ như thế này: “Người khác là
chúng sanh, c̣n ḿnh chẳng phải”. Đấy là cống
cao, ngă mạn. Học như vậy th́ chỉ học được phiền
năo, làm sao chúng ta luôn thấy “Phật, tâm,
chúng sanh là b́nh đẳng” cho được? Quư vị bề
ngoài b́nh đẳng nhưng trong tâm đa số chẳng b́nh
đẳng. Đấy chính là đại phiền năo!
Bàn đến
phiền năo th́ trong trăm pháp, Tham, Sân, Si,
Mạn, Nghi, Bất Chánh Kiến thuộc về căn bản phiền
năo. Ngoài ra c̣n có trần sa phiền năo, căn bản
vô minh. Ba loại này đều là bịnh ai nấy đều có,
ai nấy chẳng tự hay. Càng học Phật, niệm kinh
chẳng tự biết, phiền năo càng nặng đều là do
quan niệm “tôi xem sách hoặc nghiên cứu kinh
chẳng ít”. Nhưng kinh giống như thuốc. Nếu như
uống lầm thuốc chẳng đúng bệnh, rốt cuộc có lợi
ích chi? V́ thế, chúng ta chẳng thể thành tựu
chính là do cống cao, ngă mạn. Tôi chẳng nói đến
những việc khác bởi chính cống cao, ngă mạn
khiến cho mọi người sau này thoái chuyển, làm
sao c̣n bàn đến chuyện đắc Nhất Tâm Bất Loạn
được nữa?
Nói như
vậy th́ phải trừ khử cách nào mới nên? Phải
“trong tâm thật sự trống không, một niệm chẳng
khởi”. Đấy là chân lư. Nguyên lai bổn tánh là
bất động, hễ động th́ gọi tên khác là Tâm. Chúng
ta chẳng thường hay nói là “khởi tâm động niệm”
đó sao? Khởi tâm chính là khởi lên ư niệm. Một ư
niệm vừa khởi lên bèn có mục tiêu nên sẽ tạo
nghiệp. Tạo nghiệp sẽ phải lănh quả báo. Thiện
nghiệp th́ thiện báo, ác nghiệp th́ ác báo. Các
báo thiện, ác lại chẳng thể triệt tiêu lẫn nhau,
làm ǵ phải chịu báo nấy. Giống như nay chúng ta
được báo ứng, so với ba ác đạo th́ vẫn c̣n khá
hơn. Tuy vậy, chúng sanh gồm có cửu giới
(5),
nhân loại chỉ là một trong chín giới đó, vẫn chỉ
là tạm thời ngoi đầu lên trên biển khổ mà thôi.
Vẫn là nhiều đời, nhiều kiếp đến nay, chẳng biết
mấy khi làm lành, tạm hưởng được thiện báo.
Nói đến
thiện báo th́ phải có được thân người th́ mới có
thể giải thoát. Nếu chẳng được thân người th́
đừng nói chi đến chuyện hiểu Phật pháp, ngay cả
chuyện hiểu thông suốt những ngôn ngữ b́nh
thường đă khó khăn rồi: chim có tiếng chim, thú
có tiếng thú. Nói đến thiện báo được làm thân
người th́ xét đến cùng là do tạo nghiệp nào mà
được, chỉ sợ chúng ta đều chẳng tự biết vậy.
Nói
chung, từ vô thỉ kiếp cho đến hiện tại, chúng ta
tạo nghiệp, lănh báo, một bề biến hóa không
ngừng, vậy th́ hiện tại chúng ta phải nên làm
ǵ? Trước khi xét đoán phương pháp, chúng tôi
xin minh định trước: Hễ có thân là phải có khổ.
Nếu không có cái thân tứ đại giả hợp này th́
không có chỗ nào để thọ khổ cả. Muốn tiêu tội
nghiệp th́ phải bắt đầu từ đầu nguồn. Đầu nguồn
chính là Tâm. Tâm không có h́nh dáng nhưng lại
chính là nguyên động lực lôi kéo chúng ta luân
lạc sanh tử. Chúng ta khởi tâm động niệm bèn tạo
nghiệp, nhiều đời nhiều kiếp chồng chất chẳng
biết là bao nhiêu.
Trong
kinh dạy: “Nếu như ác nghiệp có thể tướng th́
trọn cơi hư không chẳng thể chứa đựng nổi”.
Nghiệp nhiều như thế đấy. Chẳng cần nói đến kẻ
không siêng niệm Phật; đối với người khéo niệm
Phật, có phải là sẽ tiêu sạch được ác nghiệp từ
trần sa kiếp chăng? Chỉ e rằng chẳng đơn giản
như vậy. Ví như vầng Thái Dương chiếu xuống
tuyết, tuyết tan thành nước. Thế sao tuyết đọng
trên Tuyết Sơn suốt năm chẳng tan? Nào có phải
là mặt trời chẳng rọi xuống Tuyết Sơn đâu! Lời
tục nói: “Băng đóng ba thước, chẳng phải là
trời lạnh một ngày”. Chỉ đơn độc cậy vào sức
ḿnh, làm sao đạt được “tâm không?” Làm sao tiêu
trừ tội nghiệp được? Nói như thế th́ nhất định
phải nhờ cậy (sức Phật). Đấy chính là Nhị Lực.
Điều thứ
hai là chữ Nhị Lực chẳng phải chỉ nói về hai lực
ấy, mà c̣n hàm chỉ nhiều thứ. Chẳng hạn như
trong đạo tràng này có rất nhiều người, nhưng ta
cũng có thể nói là có hai loại người. Một là
giảng, hai là nghe. V́ thế chỉ nói “hai” nhưng
đă bao gồm người giảng, người phiên dịch, người
nghe, người lo liệu công việc... biết bao là
thứ. V́ thế chữ “Nhị” c̣n hàm ư “rất nhiều”.
Trong
kinh A Di Đà, mười phương chư Phật đều nói:
“Chúng sanh các người đều nên tin vào kinh Khen
Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy
Chư Phật Hộ Niệm này”. Phật nói với Bồ Tát,
Bồ Tát lại đem lời ấy tuyên thuyết, lần lượt lan
truyền rộng răi như thế trùng trùng vô tận, rốt
ráo chẳng hề có kết thúc. Quư vị nghĩ xem, nghĩ
đến cùng là nhiều hay không nhiều vậy? V́ thế,
sức của ác nghiệp cố nhiên là to, nhưng sức của
mười phương chư Phật cũng rất to. Do mười phương
Phật đến giúp ta tiêu nghiệp th́ sợ ǵ chẳng
thành tựu cơ chứ?
Kinh A Di
Đà dạy: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân
nghe kinh này mà thọ tŕ và nghe danh hiệu chư
Phật th́ các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều
được hết thảy chư Phật hộ niệm”. “Niệm” có
nghĩa là trong tâm Phật có ḿnh. Tâm Ngài đă có
ḿnh th́ nếu ḿnh có chuyện ǵ, các Ngài sẽ đến
giúp cho. Đấy là “Hộ”. Nói như vậy có phải là
chúng ta cứ ngồi chờ Phật đến rước chăng?
Phật giáo
Nhật Bản có một tông phái mệnh danh là Chân Tông
chuyên giảng về nguyện thứ 18 trong 48 nguyện
của Phật A Di Đà, cho rằng chỉ cần tin vào Phật
th́ Phật sẽ đến tiếp dẫn văng sanh. Thật ra làm
ǵ tiện lợi như vậy! Cầu Phật đến tiếp dẫn phải
có đủ Tín - Nguyện - Hạnh mới cảm ứng được!
Thế nào
là Cảm Ứng? Giống như quư vị niệm Phật ở nơi đây
(không phải là xướng Phật) th́ Niệm chính là Tâm
của quư vị, tâm quư vị khởi niệm nơi Phật th́
Phật hộ niệm quư vị. Hai bên ḥa hợp, đó là Cảm
Ứng. Nhưng niệm Đức Phật nào? Niệm A Di Đà Phật.
Nếu một mặt vừa niệm Phật A Di Đà, một mặt lại
niệm Phật Dược Sư, tự cho rằng “đằng nào cũng là
niệm Phật” th́ lại là lầm mất rồi, sẽ chẳng được
cảm ứng.
Quư vị
xem đây: hai bàn tay tôi vỗ vào nhau phát ra
tiếng. Đấy là một loại âm thanh. Dùng tay vỗ lên
bàn th́ lại là một loại âm thanh khác. Hai loại
khác nhau. V́ thế, đức Thích Ca Mâu Ni Phật dạy
quư vị niệm A Di Đà Phật th́ quư vị niệm A Di Đà
Phật, chỉ nên tuân theo Thánh lượng th́ mới được
lợi ích!
Tiếp đây,
tôi đem các phương pháp dạy niệm Phật của chư Tổ
Sư tặng cho quư vị. Nếu thật có thể hành đúng
như pháp th́ sẽ có thể chế phục Hoặc, đạt được
Giả Nhất Tâm (Nhất Tâm có hai loại: Lư Nhất Tâm
là chân lư, Sự Nhất Tâm thuộc về tướng trạng bên
ngoài, là phương tiện. V́ thế, Sự Nhất Tâm c̣n
được gọi là Giả Nhất Tâm), sau rồi sẽ được văng
sanh.
“Niệm
Phật bất tất cầu đa niệm”:
Niệm Phật chẳng cần phải niệm cho thật nhiều.
“Đản
niệm bát bách tâm bất loạn”:
Niệm một xâu chuỗi 108 tiếng sao cho dù một chữ
cũng chẳng loạn.
“Kỳ
trung trước hữu nhất niệm sai”:
Trong 108 câu niệm ấy, nếu như có một câu niệm
lầm lẫn.
“Trạo
chuyển châu đầu đô bất toán”: Những câu niệm
từ đầu xâu chuỗi tính đến câu sai ấy đều không
tính nữa. Câu này rất khẩn thiết. Có một điểm
cần phải chú ư là: “Tự niệm, tự nghe”. Lúc niệm
phải niệm sao cho rơ ràng, tách bạch. Lúc nghe
cũng phải nghe sao cho phân minh, rành rẽ. Hễ
niệm sai một câu th́ phải niệm lại từ đầu. Lúc
quư vị thực hành công khóa chánh, nên làm theo
đúng phương pháp đă dạy trong bài kệ này để ḥng
cầu được “Nhất Tâm Bất Loạn”. C̣n như lúc tán
niệm (niệm Phật ngoài thời công khóa chánh) th́
có thể tùy duyên.
Hiểu rơ
những điều trên đây rồi th́ không cần phải mất
công nói nhiều nữa, cứ chiếu theo đó mà làm là
được. Tiếp đây, tôi dùng một bài kệ để tổng kết
lại:
“Vạn pháp tinh hoa lục tự bao,
Thánh ngôn chân lượng bạt tâm
mao,
Tŕ danh dung dị nan trừ mạn,
Vô giá bảo châu tùng thử phao”
|
“Vạn
pháp tinh hoa lục tự bao”:
Phật pháp vô biên, Trung Quốc gọi là Tam Tạng (nhưng
thật ra c̣n rất nhiều kinh chưa được phiên dịch
[sang tiếng Hán]), gọi chung là “vạn pháp”. Chữ
“tinh hoa” chỉ tinh thần chân chánh
(của vạn
pháp), cũng có nghĩa là những lời trọng yếu. Chỉ
niệm sáu chữ là đă bao quát cả Tam Tạng 12 bộ
kinh, cũng có thể nói là đă hiểu được Tam Tạng
mười hai bộ kinh rồi th́ mới hiểu được sáu chữ
“Nam mô A Di Đà Phật”. Nếu chẳng thể niệm hết
toàn bộ kinh tạng th́ niệm sáu chữ cũng giống
như niệm hết toàn bộ kinh tạng vậy.
“Thánh
ngôn chân lượng bạt tâm mao”:
V́ sao nói là sáu chữ bao gồm trọn vẹn Tam Tạng?
Quư vị phải chân chánh dốc ḷng niệm sáu chữ này,
tâm chẳng chạy theo bên ngoài th́ sẽ mau chóng
được khai ngộ. Thế nhưng, quư vị đă khai ngộ
chưa? Chưa. V́ sao chưa? Là v́ tâm nhăn quư vị
bị cỏ tranh (mao thảo) che lấp cho nên chẳng thể
mở ra được. Hiện tại, ta tuân theo Thánh Ngôn
niệm sáu chữ này chính là nhổ bật cỏ tranh che
lấp để tâm nhăn được rộng mở.
“Tŕ
danh dung dị, nan trừ mạn”:
Chữ “danh” chỉ danh hiệu A Di Đà Phật. “Tŕ” là
nắm giữ, chẳng buông bỏ, mà cũng là niệm. So với
niệm kinh, tŕ danh dễ dàng hơn, nhưng vẫn có
chỗ khó khăn. Tức là c̣n cống cao, ngă mạn, tự
cho rằng: “Tôi làm rồi, tôi hiểu rồi”. Hễ có cái
căn bản phiền năo này th́ sẽ chẳng thành tựu.
Học Phật th́ bước thứ nhất là Vô Ngă. Có Ngă th́
cũng văng sanh, nhưng tiếc là văng sanh trong
lục đạo, vĩnh viễn chẳng giải thoát. V́ thế,
muốn được giải thoát th́ trước hết phải trừ Ngă
Mạn. Trừ bằng cách nào? Nhà Phật có nói đến Lục
Ḥa Hợp, hết thảy đều b́nh đẳng. Nhưng Ngă Mạn
rất khó trừ.
“Vô
giá bảo châu tùng thử phao”:
Nếu chẳng trừ Ngă Mạn th́ khác nào xem thường
ném bảo châu vô giá Tam Bảo đi.
Ở nơi
này, chư vị hăy thử thí nghiệm phương pháp vừa
nói trên đây, hết thảy đều buông xuống hết, chỉ
cầu Nhất Tâm thôi!
Trang 22
|
|
XI.
KHAI THỊ PHẬT THẤT NĂM CANH THÂN TẠI CHÙA LINH SƠN
(Đệ tử
Hoàng Vịnh kính ghi)
Thưa chư
vị lăo sư, chư vị đồng tu.
Phật thất
chùa Linh Sơn đă được duy tŕ hơn ba mươi năm,
mỗi năm tôi đều tham gia. Trước kia, lúc Chính
Phủ chưa đến Đài Loan, Phật giáo tỉnh này vẫn
c̣n chưa phát triển. Dù có chùa, miếu, nhưng đại
đa số chỉ để tự tu, chẳng chú ư mấy đến việc
hoằng pháp lợi sanh. Những việc hoằng pháp lợi
sanh như Phật thất v.v... thực sự do chùa này
khởi xướng. Lần Phật thất này, những bạn đồng tu
mới nhiều hơn cựu đồng tu. Lời giảng của tôi khó
thể thích hợp với các loại căn cơ. V́ thế lần
giảng này dựa trên nguyên tắc cốt sao cho các
bạn tân đồng tu hiểu được, mong các cựu đồng tu
từ bi tùy duyên nghe giảng.
Phật thất
ở nơi này là Phật thất của Tịnh Độ Tông. Nói đến
Tịnh Độ tông th́ ai ai cũng biết cả v́ nó quá
phổ biến, nhưng thực sự th́ rất ít người hiểu rơ
nội dung Tịnh Độ tông. Chẳng phải chỉ người
ngoài không biết, ngay cả trong cửa Phật, những
người hiểu rơ Tịnh Độ tông cũng chẳng nhiều.
Thậm chí người đang tu Tịnh Độ tông cũng chẳng
hiểu rơ lắm! Ở đây, tôi phải thanh minh trước:
hôm nay, tôi không đến đây để khai thị mà chỉ
đến tṛ chuyện. V́ người hiểu đúng Tịnh Độ tông
quá ít, nên tôi chỉ tường tŕnh lại theo đúng
kinh điển, lời giảng của chư Tổ mà thôi.
Tại gia
tu hành công phu chẳng thể rốt ráo hoàn toàn,
người xuất gia khéo tu tập có thể chứng được Tứ
Quả A La Hán. Ở đây, tôi chẳng bàn đến người tại
gia. Muốn chứng Tứ Quả A La Hán phải trải qua
một thời gian lâu chừng mấy ngàn năm. Luận về
người đời sau sẽ chứng được Sơ Quả th́ trong
mười vạn người chẳng dễ t́m được một người. Dù
có chứng quả A La Hán đi nữa th́ cũng chỉ hiểu
được phương pháp để chứng quả La Hán, chứ đối
với pháp môn Tịnh Độ cũng chẳng thể hiểu được dễ
dàng. Đấy chính là điều được nói trong kinh, chứ
chẳng phải chính tôi bịa ra. Nếu kinh Phật không
chép th́ dù một câu tôi cũng chẳng dám nói.
Ai hiểu
được pháp môn Tịnh Độ? Quả vị Bồ Tát có năm mươi
hai địa vị. Hàng Bồ Tát trước khi chứng quả
trong Thập Địa, c̣n thuộc vào Hiền Vị, vẫn chưa
hiểu được. Những vị nào đă chứng quả trong Thập
Địa th́ gọi là Thánh Vị, cũng chỉ hiểu được một
nửa. Phải là thành Phật rồi mới có thể hiểu
triệt để pháp môn Tịnh Độ. Chỉ có Phật với Phật
mới hiểu thấu cùng tận. Mọi người nghe đến đây
phải đặc biệt chú ư: Quư vị được nghe danh hiệu
Phật, tu được pháp môn Tịnh Độ th́ ắt là trong
ngàn đời, vạn kiếp đă trồng đại thiện căn, làm
đại thiện sự th́ mới đạt được như vậy. Nhưng nếu
đă biết pháp môn Tịnh Độ thù thắng th́ phải dụng
công tu tŕ, có tu mới thành công, không tu
không thành công.
Có người
chưa nghe nói đến Tịnh Độ, cũng chẳng hiểu Tịnh
Độ là cái ǵ, tự ḿnh chẳng biết, nếu miệng
chẳng khích bác th́ không tạo tội. Nhưng nếu
chẳng hiểu Tịnh Độ là pháp khó tin, lại tự lầm
tưởng ḿnh là thông minh, hủy báng pháp môn Tịnh
Độ th́ là không được. Bởi lẽ, hủy báng Phật pháp
chính là gây tội tam đồ, thế nhưng hủy báng pháp
môn Tịnh Độ lại chính là tội Vô Gián địa ngục!
Quư vị phải nên đặc biệt chú ư cẩn thận. Tịnh Độ
Tông là pháp khó tin, rất sâu xa, chỉ ḿnh đức
Phật mới có thể hiểu triệt để. Ngoài ra, phải là
hạng đă chứng Bát Địa Bồ Tát mới hoàn toàn tin
nhận được thôi. Chúng ta chẳng hiểu, chẳng tin
th́ càng phải đặc biệt lưu ư, ngàn muôn phần chớ
tạo tội nghiệp.
Nếu pháp
môn Tịnh Độ chỉ riêng Phật với Phật mới có thể
hiểu thấu tột cùng th́ sao Đức Phật lại đem pháp
khó tin, khó hiểu này phổ biến, dạy chúng sanh
tu tŕ? Tôi cũng chẳng đáp thông được, chỉ dẫn
lời Phật để đáp. Hết thảy các pháp môn khác
chung cục đều nhằm để thấu triệt bất sanh, bất
diệt, liễu sanh thoát tử. Các tôn giáo trên toàn
cầu tu đến mức cao nhất th́ chỉ sanh lên trên
trời, chỉ riêng ḿnh Phật giáo có thể liễu sanh
thoát tử. Nhưng nói chung tu các pháp môn trong
nhà Phật đều phải chịu khổ lớn như thường nói:
“Chẳng mắc ma nạn th́ chẳng thành Phật”.
Đa số người tu hành chẳng chịu nổi đại khổ, đấy
là một điều khó khăn.
Hơn nữa,
thời gian tu tập rất dài, chứng quả La Hán đă
phải mất mấy ngàn năm. Phàm phu thọ mạng hữu
hạn, trong mấy mươi năm làm sao chứng quả được?
Lại phải tu tập từng bước, thành công thật chẳng
dễ dàng ǵ.
Tịnh Độ
tông tuy người người chẳng hiểu, nhưng có điều
cực thuận tiện là v́: A Di Đà Phật chính là vị
Phật tiếp dẫn, thế giới Cực Lạc tuy cách xa mười
vạn ức cơi Phật, A Di Đà Phật phát nguyện đích
thân đến tiếp dẫn. Trong mười phương tuy đều có
Tịnh Độ, đều có Phật và Bồ Tát, nhưng chưa từng
phát nguyện đến tiếp dẫn, ḿnh có năng lực tu
đạt đến đó th́ tự ḿnh đi về đó nên chẳng dễ
thành tựu. Văng sanh Cực Lạc thế giới th́ có thể
thành tựu ngay trong đời này. Đời người ngắn
ngủi mấy mươi năm, đầy đủ tư lương Tín Nguyện
Hạnh, lâm chung chánh niệm phân minh, Phật liền
cầm hoa sen đến tiếp dẫn. Ta liền ngồi lên hoa
sen sanh về Cực Lạc thế giới, dứt sạch sanh tử,
thật là thuận tiện quá sức. Điều này trong Tam
Tạng kinh điển đă nói tường tận, tu pháp môn
Tịnh Độ thù thắng là ở chỗ này.
Tu các
pháp môn khác th́ cần phải “Tín, Giải, Hạnh,
Chứng”, hoàn toàn cậy vào tự lực, tu hành trong
một thời gian dài. Tu pháp môn Tịnh Độ dù đạo
lư chẳng dễ hiểu, nhưng chỉ cần Tín - Nguyện -
Hạnh là có thể thành tựu. Nếu không th́ đừng nói
là tu hai, ba mươi năm chẳng hiểu được lư Tịnh
Độ, dù có tu năm trăm năm cũng chưa chứng được
quả La Hán, cũng vẫn chẳng hiểu được lư Tịnh Độ.
Kinh Hoa
Nghiêm nói Bồ Tát phải tu hành qua các địa vị
Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng.
Đạt đến Thập Hồi Hướng mới hiểu được Phật lư,
mới hành bố thí triệt để được. Nhưng tu đến Thập
Hồi Hướng phải mất hai đại A Tăng Kỳ kiếp, thực
chẳng dễ chi! Nay tôi đối trước Đức Phật thuyết
pháp, nếu nói nhầm một câu th́ chính là hủy báng
Phật pháp, người thuyết pháp phải đọa địa ngục.
Tôi đă hơn chín mươi sáu tuổi, c̣n đến đây tạo
tội địa ngục làm ǵ? Tôi khùng như thế chăng?
Nói tóm lại, Tịnh Độ Tông thật chẳng dễ giải
thích, chẳng dễ hiểu ǵ.
Chúng ta
đă phát tâm tu hành, nếu chẳng tu hành thành
công th́ chẳng đáng tiếc lắm sao? Muốn giải
thích Tịnh Độ cho rơ ràng chẳng dễ dàng ǵ, từ
Tổ Sư của Tịnh Độ Tông Trung Quốc là ngài Huệ
Viễn đại sư đời Đông Tấn cho đến ngài Ấn Quang
đại sư thời Dân Quốc, những lời khai thị của các
ngài đều xuất phát từ kinh Phật. Kinh
Hoa Nghiêm
là vua các kinh, là vua của cả Tam Tạng, thế mà
trong phẩm cuối cùng, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười
đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. V́ thế phải
biết rằng: Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đều
tu pháp môn Tịnh Độ, cầu sanh Cực Lạc thế giới.
Kinh dạy: “Ly kinh nhất cú, tức thị ma
thuyết” (nói sai khỏi kinh một câu, chính là
ma nói). Kinh Pháp Hoa cũng dạy: “Y pháp bất
y nhân” (nương theo pháp, chẳng nương theo
người). Chúng ta tu Tịnh Độ nương theo lời Phật,
có bằng chứng chân thật. Nếu không, dù ai có
danh tiếng lớn lao đến đâu mà lời nói chẳng phù
hợp với lời Phật, chúng ta cũng chẳng tin.
V́ sao
Tịnh Độ Tông chỉ nói Tín - Nguyện - Hạnh mà
chẳng nhắc đến Giải? Trong kinh cũng có thí dụ:
Dù cho bậc trí huệ đệ nhất là ngài Xá Lợi Phất,
khắp toàn thân đều có miệng, và lại có vô lượng
vô biên Xá Lợi Phất trong vô lượng vô biên kiếp
giảng giải đạo lư Tịnh Độ th́ cũng chẳng thể
giảng trọn hết. Tôi vốn chẳng có năng lực ấy,
chỉ có một hai quyển kinh làm cơ sở, ngay cả
kinh A Di Đà tôi cũng c̣n hiểu chưa hết. Trong
kinh ấy câu nào cũng đều là vô lượng vô biên bí
quyết trọng yếu để tu hành. V́ vậy, muốn thoát
sanh tử th́ phải là kẻ đă liễu sanh tử mới chẳng
đến nỗi lầm lạc. Tịnh Độ Tông lấy Tín - Hạnh -
Nguyện làm cơ sở, chúng ta cứ chiếu theo đó mà
hành. Phật là bậc đă liễu sanh tử, Phật dạy như
thế nào, ta cứ tin như thế ấy, hành như thế ấy
ắt sẽ thành công. Nếu tự lầm cậy ḿnh thông
minh, nhất định sẽ hiểu biết sai lạc vậy.
Trong Tín
- Nguyện - Hạnh, Tín là ǵ?
Thứ nhất,
tin rằng nếu không học Phật sẽ vĩnh viễn luân
hồi trong lục đạo, chẳng được giải thoát. Bất cứ
tôn giáo khác nào đều chẳng thực hiện được việc
này.
Thứ hai,
tin rằng học Phật th́ phải mất ba đại a tăng kỳ
kiếp mới có thể thành Phật. Chỉ có pháp môn Tịnh
Độ trong thời gian ngắn liền có thể thành tựu
ngay trong đời này. Cổ đức nói: “Vạn người tu
vạn người đậu”. Kinh
A Di Đà dạy: “Nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe kinh này mà
thọ tŕ và nghe danh hiệu chư Phật th́ các thiện
nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được hết thảy chư
Phật hộ niệm, đều được chẳng thoái chuyển nơi Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Đấy
chính là “vạn người tu, vạn người đậu”. Nhưng
chúng ta ở đây dù niệm Phật dăm ba năm cũng chỉ
là miệng niệm. Chỉ khi văng sanh Tây Phương rồi
th́ nghe chim, cây phát ra tiếng bèn niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng. Lư thâm áo này phàm phu
chẳng thể hiểu nổi, ngay cả bậc đă chứng Nhị Quả
cũng không cách nào hiểu rơ. Chỉ nên tin chắc
vào Thánh ngôn lượng chẳng nghi th́ mới có thể
thành công.
Thứ ba,
tin sâu xa rằng chúng ta tu pháp môn Tịnh Độ,
quyết định sẽ thành tựu trong đời này, quyết
định “vạn người tu, vạn người đậu”.
Thứ tư,
tin rằng lúc văng sanh, A Di Đà Phật nhất định
đến trước ḿnh tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc thế
giới. Tin sâu rằng đă tu pháp môn Tịnh Độ th́
phải chấp tŕ danh hiệu chẳng buông. Từ nay sanh
ḷng tin sâu xa chẳng nghi, đến chết cũng chấp
tŕ danh hiệu chẳng buông, dù cho bom nguyên tử
có rớt xuống cũng chấp tŕ chẳng bỏ th́ mới
thành công vậy.
Hiện giờ
tôi thấy t́nh huống của quư vị rất tốt, rất phù
hợp với những điều được dạy trong kinh
A Di Đà.
Kinh dạy: “Đều được chẳng thoái chuyển nơi Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Quư vị phước
khí chẳng nhỏ, nhưng có mấy vị chưa nghe đến đây
đă lui ra rồi, thật là đáng tiếc! Tôi rất lưu
tâm đến điều này, bọn họ phước báo không nhiều,
nhưng quư vị th́ không giống vậy. Nếu nghe minh
bạch th́ đều có thể thành công bởi v́ hạt giống
Kim Cang đă rơi vào tám thức điền của mọi người.
Do quư vị giữ tinh thần lắng nghe th́ mới biết
là quư vị đă được phước báo to như cơi trời, hạt
giống ấy vĩnh viễn chẳng bị tiêu diệt. Điều khẩn
yếu là hai chữ “bất thoái”, vĩnh viễn chẳng
thoái thất. Nếu khéo công phu th́ ngay trong đời
này thành tựu. Nếu không th́ sớm muộn ǵ hạt
giống Kim Cang sẽ nảy mầm, lúc ấy chính là lúc
quư vị thành tựu kết quả.
Tiếp đến
là nói về Nguyện. Hiện tại ḿnh học Phật rồi, đă
biết có vô lượng vô biên Tịnh Độ. Nhưng chúng ta
tu Tịnh Độ, phải phát nguyện sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới là điều vĩnh viễn chẳng biến
cải, chớ có ai nói ǵ cũng tin, chẳng thể sáng
ba, chiều bốn. Dù cho có ai nói thế giới nào tốt
đẹp ngàn vạn lần cơi Tây Phương, ta cũng chẳng
trái bỏ ư niệm Phật lúc đầu. Dù cho ai dạy pháp
môn nào hay hơn, lẹ làng hơn pháp môn Niệm Phật
Văng Sanh cũng vĩnh viễn chẳng biến cải. Có khí
phách kiên định, nguyện thiết tha như thế th́
nguyện ắt thành.
Nếu đă tu
Tịnh Độ rồi lại đổi tu pháp khác tức là tu cả
ba, bốn pháp môn th́ không có pháp nào tu thành
công hết. Đă phát nguyện văng sanh Tây Phương
thiết tha rồi, đă có ḷng tin rồi, đă có căn cứ
rồi, bất luận là t́nh h́nh nào cũng vĩnh viễn
chẳng biến cải th́ ắt sẽ thành tựu.
Lại nói
về Hạnh. Hạnh rất đơn giản. Kinh
Địa Tạng, kinh Dược Sư, kinh
Pháp Hoa, Tam Tạng mười hai bộ
kinh đều hay cả, nhưng nếu vậy chẳng lẽ mỗi ngày
tụng hết cả Tam Tạng mười hai bộ kinh sao? Muôn
phần chúng ta chẳng nên dùng phàm để suy thánh,
tưởng tâm Phật, tâm Bồ Tát giống như tâm phàm
phu: nếu ḿnh lễ bái vị này, không lễ bái vị
kia, chỉ sợ đắc tội với vị kia. Đấy thật là ngu
si. Chúng ta có tâm phân biệt, chứ Phật chẳng hề
có. Nếu chúng ta ngu si, niệm kinh này, niệm
kinh kia th́ không một ai trong một ngày niệm
xong Tam Tạng mười hai bộ kinh được cả!
Tu Tịnh
Độ cực giản dị, dù cho chẳng niệm kinh A Di
Đà, chỉ niệm Phật cũng được. Vạn đức hồng
danh, bất luận là Nam Mô A Di Đà Phật, hoặc bốn
chữ A Di Đà Phật, câu hồng danh này bao hàm vô
lượng vô biên danh hiệu Phật. Bởi lẽ A Di Đà
Phật chính là Pháp Giới Tạng Thân, niệm một câu
Phật cũng như niệm hết thảy Phật.
Hơn nữa,
chữ A trong A Di Đà Phật chính chữ thứ nhất
trong Hoa Nghiêm Tự Mẫu của kinh Hoa
Nghiêm. Thế Tôn cuối đêm thấy sao Mai, kiến
tánh thành Phật, liền quán tưởng chữ A. Không có
chữ A này th́ cũng chẳng có Tam Tạng mười hai bộ
loại kinh điển. Câu A Di Đà Phật này cũng chưa
được phiên dịch, v́ hàm tàng nhiều ư nghĩa. Chỉ
lấy một câu danh hiệu Phật này, già giặn, chắc
thật niệm đến khi Nhất Tâm Bất Loạn ắt sẽ nhất
định thành công, chẳng cần phải niệm nhiều thứ
khác. V́ thế, lúc niệm Phật đừng nghĩ đến vọng
niệm nào khác. Vọng niệm khác là Ma, ta dùng câu
Phật hiệu này để trừ khử nó. Như vậy mới có thể
đạt tịnh niệm tiếp nối.
Hơn nữa,
về Chánh Trợ Song Tu th́ thật sự ra, đối với Trợ
Pháp cũng chẳng cần phải làm ǵ khác, chỉ cốt
sao đối với một câu danh hiệu Phật này, Nhất Tâm
niệm Phật th́ chánh lẫn trợ đều bao gồm trong
ấy. Nhưng chúng ta c̣n là phàm phu, vẫn chưa đạt
được công phu ấy. Thực ra, Nhất Tâm niệm Phật
th́ kinh, Phật, chú đều gộp cả trong đó, chỉ sợ
bọn ta chẳng được thành tâm như thế. Nếu thành
tâm niệm Phật th́ Tam Tạng mười hai bộ kinh đều
nằm trọn trong ấy.
Đối với
Trợ Hạnh Công Phu, nếu chúng ta chưa biết làm
lành th́ cũng chẳng khẩn yếu lắm, chỉ cần “các
điều ác đừng làm” th́ cũng được. Niệm Phật th́
chẳng tạo ác. Lúc chúng ta niệm Phật A Di Đà,
chúng ta chính là Phật A Di Đà. Phật chính là
tâm, tâm chính là Phật. Chẳng được một mặt niệm
Phật, một mặt tạo nghiệp. Nếu như niệm Phật mà
lại c̣n gây các tội nghiệp giết chóc, dâm dục,
trộm cắp, uống rượu v.v... th́ chính là báng
Phật, công hiệu của việc niệm Phật bị giảm
thiểu. Chỉ cốt sao đừng tạo nghiệp, già giặn,
chắc thật niệm một câu A Di Đà, lại đừng làm các
điều ác. Tu pháp môn Tịnh Độ như thế nhất định
thành công.
Khi đến
giảng trong Phật thất, tôi vốn thường giảng nói
sao cho người tham gia đắc Nhất Tâm, nhưng thấy
mấy năm nay, có nhiều người thoái chuyển. Thế
nên hôm nay, tôi nói nhiều về giáo lư, hiểu rơ
giáo lư th́ mới biết rơ nên dụng công thế nào để
được Nhất Tâm. Tôi nói bài kệ để khích lệ chung:
“Tịnh
Tông tư lương Tín Nguyện Hạnh”
(Tư lương của Tịnh Độ tông là Tín Nguyện Hạnh):
Tịnh Độ tông tu hành văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới th́ phải chuẩn bị đủ ba thứ tư
lương “tin sâu, nguyện thiết, hạnh mạnh mẽ”. Tín
Nguyện Hạnh giảng ra có vô lượng vô biên pháp,
hôm nay tôi giảng những điều cực giản yếu.
“Nhị
lực cảm giao công thỉ thành”
(Hai lực cảm ứng đạo giao th́ mới thành công):
Phàm là muốn được thành công, tu các tông khác
phải dựa vào chính sức ḿnh, tu dần từng bước
mới có thể thành công. Hễ dùng sức sai một phân
th́ chẳng thể thành công. Tịnh Độ tông bất tất
phải như thế, sức lực chủ yếu là sức của Phật A
Di Đà, ḿnh chỉ đổ ra ít sức. Ḿnh chỉ cần buông
xuống vạn duyên, niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn,
những việc ǵ khác đều không bận tâm đến. Những
ǵ khác đều coi là do sức của Phật A Di Đà, thế
giới Cực Lạc là do Phật A Di Đà trang nghiêm
thành. Lúc chúng ta lâm chung, Phật đích thân tự
cầm hoa sen đến tiếp dẫn sanh về thế giới ấy.
“Trang nghiêm cơi Phật, tiếp dẫn văng sanh” đều
do sức của Phật, chúng ta chỉ việc niệm Phật sao
cho đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn. Đấy là những điều
được minh thị trong kinh. Có cả Phật lực lẫn tự
lực như thế ắt sẽ thành công.
“Kinh
văn tối trọng Đồng Cư Độ”
(cơi được kinh văn chú trọng nhất là Phàm Thánh
Đồng Cư Độ): thế giới Cực Lạc chia làm bốn cơi (Phàm
Thánh Đồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thật Báo
Trang Nghiêm và Thường Tịch Quang). Trong kinh
A Di Đà có đủ cả bốn cơi, nhưng cơi được
coi là trọng yếu nhất chính là cơi Phàm Thánh
Đồng Cư. Bọn phàm phu chúng ta chưa đoạn được
một phẩm vô minh nào, không phương cách nào sanh
về Tịnh Độ. Nhưng thế giới Cực Lạc chính là “Tha
Thọ Dụng Tịnh Độ”, giống như một căn nhà tốt,
chẳng phải chỉ để riêng ḿnh sử dụng mà c̣n phải
nhượng cho mọi người đều được sử dụng.
Tu hành
đoạn Hoặc mới thoát khỏi luân hồi. Phàm phu
không cách ǵ thoát luân hồi, chỉ có được Phật A
Di Đà trong Cực Lạc thế giới tiếp dẫn th́ mới có
thể thoát sanh tử luân hồi, dù văng sanh Cực Lạc
thế giới nhưng vẫn là phàm phu. V́ thế, trong
kinh A Di Đà, chư Phật trong sáu phương
xuất hiện để chứng thực những điều đă được nói
trong phần kinh văn trước đó đều là cảnh giới
của phàm phu, là cơi Phàm Thánh Đồng Cư.
Dựa theo
thế giới Sa Bà đây mà nói th́ phía dưới trời Sắc
Giới là trời Lục Dục, vẫn có nam nữ, ăn uống
cũng như chuyện ăn ở. Nhưng trong kinh A Di
Đà cũng nhắc đến ăn ở th́ đấy cũng là cảnh
giới của phàm phu chưa đoạn Hoặc. V́ thế, chúng
ta Nhất Tâm niệm Phật, dù chưa đoạn Hoặc cũng
vẫn được văng sanh Cực Lạc Tịnh Độ. Sau khi văng
sanh sẽ làm người hoặc là làm trời, nhưng vẫn là
phàm phu, chưa có quả vị, nên phải thuộc về Phàm
Thánh Đồng Cư Độ.
V́ thế, ở
trong cơi Sa Bà này, chưa đoạn Hoặc mà có thể
văng sanh Cực Lạc th́ thuộc về Hoành Siêu (vượt
khỏi luân hồi theo chiều ngang), sanh sang cơi
Phàm Thánh Đồng Cư của thế giới Cực Lạc. Từ đó
lại sanh lên cơi Thường Tịch Quang cũng là Hoành
Siêu. Đạo lư này thâm áo chẳng dễ hiểu nổi được,
chúng ta cứ tin vào Thánh Ngôn Lượng là đủ. Bởi
thế, kinh văn chú trọng nơi Phàm Thánh Đồng Cư
Độ, chuyên tiếp độ phàm phu chưa đoạn Hoặc văng
sanh.
“Đản
đắc phục Hoặc tiện văng sanh”
(chỉ chế phục được Hoặc th́ liền văng sanh):
Nhất Tâm Bất Loạn cũng là điều được nhắc đến
trong kinh A Di Đà. Nhưng phải đoạn Hoặc
mới đạt nổi Nhất Tâm Bất Loạn. Đoạn Hoặc văng
sanh th́ liền sanh vào Thượng Phẩm. Nhưng số
người chưa đoạn Hoặc chiếm đa số. Ngay như tôi
đây, chẳng biết đời trước thế nào, chứ đời này
tôi tu tập suốt sáu mươi năm vẫn chưa đoạn nổi
một phẩm vô minh nào. Đây là lời thành thật,
chẳng những tôi không có thần thông mà quỷ thông
cũng không có luôn. Phải nhớ là dù có thần thông
vẫn không tránh khỏi luân hồi lục đạo, không
cách nào liễu sanh tử.
Bây giờ
nói đến chuyện làm sao đắc Nhất Tâm? Chúng ta
không có cách nào đoạn Hoặc để đắc Nhất Tâm, chỉ
có thể chế ngự được Hoặc mà thôi. Ngay lúc vọng
niệm của chúng ta nổi lên tơi bời th́ lập tức
dùng một câu Phật hiệu chèn ép nó, dù chèn ép
được Hoặc nhưng Hoặc vẫn chưa đoạn. Đến lúc lâm
chung, do thường ngày hễ vọng niệm nổi lên bèn
lập tức dùng Phật hiệu chế ngự, đè nén, nên lúc
lâm chung cũng giống hệt như vậy. Lúc ấy Phật
hiệu khởi lên th́ bèn được Phật đến tiếp dẫn đới
nghiệp văng sanh. Chuyện đới nghiệp văng sanh
này trong kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng
Thọ đều ngầm nói hoặc nhắc đến rơ ràng. Do
chưa đoạn Hoặc, nhưng dùng Phật hiệu để chế ngự
nó, được văng sanh, nên gọi là “đới nghiệp văng
sanh”.
V́ thời
gian đoạn Hoặc rất lâu chẳng thể nhất thời thực
hiện được, nay tu pháp môn Tịnh Độ, hễ vọng niệm
vừa khởi bèn nghĩ “hễ cái ǵ có h́nh tướng
th́ đều là hư vọng”, tức là dùng Chân Như
Phật Tánh chế ngự vọng niệm. Chân Như Phật Tánh
tức là một câu “A Di Đà Phật”. Dùng Phật hiệu
chế ngự Hoặc th́ sẽ được Phật tiếp dẫn, đới
nghiệp văng sanh, đến Tây Phương rồi mới đoạn
Hoặc. V́ thế, nay chỉ nói là “cầu văng sanh”.
Nói đă
dài rồi, sợ mất thời gian quư vị dụng công, mang
lỗi với mọi người. Giờ đây quư vị lại niệm Phật,
chế ngự Hoặc. Kính xin chư vị buông xuống vạn
duyên, thiện duyên, ác duyên đều buông xuống
hết, cứ một câu A Di Đà mà niệm măi.
*****
(1) Ư
nói: Sau khi chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của
Tưởng Giới Thạch thua mất Hoa Lục vào tay Mao
Trạch Đông, phải chạy ra Đài Loan.
(2)
Kiền chùy (Ghanta): c̣n gọi là Kiền Tŕ, Kiền
Trĩ, Kiền Để, là các khí cụ dùng để đánh báo
hiệu trong tự viện như chuông, khánh, linh, bảng,
mơ v.v... Ở đây ư nói, chuông, trống và địa
chung dùng để tán Phật và niệm Phật trong Phật
Thất.
(3)
Tuyết Tăng: Tuyết Tăng là một trong những biệt
hiệu của cụ Lư Bỉnh Nam.
(4)
Đa tài quỷ: loài quỷ có nhiều tiền của, thức ăn.
(5)
Cửu giới: Chín giới bao gồm: nhân, thiên, a tu
la, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ, Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát.
Trang 23
|
|
|